Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm quyền của bị can, bị cáo 1. Khái niệm bị can, bị cáo và quyền của bị can, bị cáo Trong các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng thường quy định các chủ thể tham gia tố tụng và nêu định nghĩa thế nào là bị can, bị cáo tùy vào các đặc điểm, tùy vào các giai đoạn tiến hành tố tụng khác nhau. Do đó, nghiên cứu và tìm ra một khái niệm thống nhất về bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS là điều cần thiết để đi đến nghiên cứu địa vị pháp lý nói chung hay quyền của bị can, bị cáo nói riêng.
Bị can, bị cáo là người bị buộc tội. Những người này chưa có bản án, quyết định kết tội của Tòa án có hiệu lực nên họ không bị coi là có tội. Đây là nguyên tắc cơ bản, có tính hiến định. Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Những chủ thể bị buộc tội được xác lập địa vị pháp lý tùy theo các giai đoạn tố tụng khác nhau, qua đó có các chủ thể được định danh thành các khái niệm cụ thể. Từ trước tới nay, chưa có khái niệm bị can, bị cáo mang tính pháp lý. Ngay cả BLTTHS năm 2003 cũng chỉ quy định mang tính chỉ định, liệt kê từng chủ thể mà theo luật trong từng trường hợp khác nhau họ có tên gọi khác nhau trong hoạt động TTHS. BLTTHS năm 2015 cũng quy định tương tự như vậy, mặc dù lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng thừa nhận bị can, bị cáo có thể là pháp nhân 5 Từ những phân tích trên tác giả cho rằng, khi đưa ra khái niệm về một chủ thể có địa vị pháp lý trong tố tụng hình sự thì khái niệm đó cần phải thể hiện được nội dung các thành tố tạo nên chủ thể đó.
Cho nên, khái niệm bị can, bị cáo phải có đầy đủ các yếu tố tạo nên một khái niệm, không thể chỉ dưới hình thức liệt kê là các chủ thể tham gia tố tụng theo luật định. Bị can, bị cáo là người bị tình nghi phạm tội tuy nhiên không phải tình nghi một cách thiếu căn cứ, mà sự tình nghi này phải được đặt trong một tiến trình TTHS theo luật định. Việc tình nghi phạm tội trong TTHS khác với sự ngờ vực hay suy đoán chủ quan mang tính cảm tính của cơ quan cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với một cá nhân bình thường trong đời sống xã hội. Người bị tình nghi phạm tội được đặt trong bối cảnh bị cơ quan cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện quyền lực nhà nước dựa vào các căn cứ trên thực tế để xác định rằng người bị tình nghi đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi này được quy định trong BLHS là tội phạm.
Không dừng lại ở đó, bị can, bị cáo phải là người đã bị cơ quan cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đưa ra một quyết định cụ thể như quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Các quyết định đó đều gắn với chủ thể bị buộc tội và họ có các quyền và nghĩa vụ được luật định trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, họ trở thành những người tham gia tố tụng. Những điều cơ bản được trình bày ở trên hoàn toàn tách biệt bị can, bị cáo theo pháp luật TTHS đối với những đối tượng bị tình nghi là đã có hành vi trái pháp luật trong trường hợp bình thường khác khác. Ví dụ: - A lén lút lấy trộm điện thoại iphone 6s của B để trên quầy hàng và bị C, D phát hiện bắt quả tang.
Trong trường hợp này thì rõ ràng A đã có hành vi trộm cắp được quy định trong BLHS. Tuy nhiên, lúc này A chưa thể 6 xem là bị can, bị cáo trong TTHS. Từ những nội dung đã nêu ở trên chúng tôi đưa ra khái niệm bị can, bị cáo trong TTHS như sau: Bị can, bị cáo là đối tượng bị điều chỉnh bởi các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật khi có căn cứ rằng chủ thể đó có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS. Khái niệm quyền của bị can, bị cáo Trước khi bàn đến khái niệm quyền của bị can, bị cáo cần tìm hiểu khái niệm quyền và quyền con người, quyền công dân.
Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Về khái niệm quyền con người, hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau. Một định nghĩa phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người. Một khái niệm khác của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc cho rằng: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.
Quyền con người được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Quyền con người là khái niệm có tính chất bao quát và rộng hơn quyền công dân. Quyền con người là quyền được áp dụng cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân của chủ thể, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại. Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch.
Quyền công dân là tập 7 hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng các quyền công dân mà pháp luật nước đó quy định. Theo Điều 28 Hiến pháp năm 2013 thì công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân. Như đã trình bày ở trên thì bị can, bị cáo trước hết là con người, là công dân có đầy đủ mọi quyền và nghĩa vụ được hiến pháp công nhận và bảo vệ, nhưng kể từ khi phát sinh sự kiện pháp lý và được điều chỉnh bằng các hoạt động tố tụng vì bị nghi ngờ phạm tội, bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì lúc này họ là bị can, bị cáo.
Do đó họ gặp các bất lợi bởi bị hạn chế hoặc bị mất một phần hay toàn bộ các quyền công dân. Thế nhưng, những bị can, bị cáo không phải là người có tội, họ có tội hay không phải do Tòa án quyết định và chỉ đến lúc có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì người đó mới được xem là có tội. Bị can, bị cáo chưa bị coi là có tội vì vậy họ vẫn được cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đảm bảo và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Khi bị buộc tội thì những bị can, bị cáo cũng có những quyền được pháp luật trao cho được hưởng, được làm và được đòi hỏi.
Vì là trong thời gian bị buộc tội nên họ là những người tham gia tố tụng, chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng trong các quan hệ pháp luật giữa họ với cơ quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác. Do vậy, có thể kết luận về quyền của bị can, bị cáo như sau: Quyền của bị can, bị cáo là những điều mà pháp luật quy định cho người đã bị khởi tố về hình sự hoặc bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử được 8 hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ sở quy định quyền của bị can, bị cáo Quyền của bị can, bị cáo không phải tự nhiên được đặt ra, được quy định một cách tùy hứng, thiếu cơ sở. Đặc biệt, quyền của bị can, bị cáo trong TTHS được thể hiện thông qua các đạo luật thể hiện quyền lực và ý chí của giai cấp thống trị, là công cụ để Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội do đó phải xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định.
Cơ sở để quy định quyền của bị can, bị cáo được thể hiện ở những nội dung sau: Thứ nhất, quyền của bị can, bị cáo được quy định trước đòi hỏi của việc bảo vệ quyền con người của Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Con người có quyền được hưởng, được làm, được đòi hỏi những quyền cơ bản mà về thuộc tính tự nhiên sinh ra đã gắn liền với họ như quyền được sống, quyền được tự do (tự do ngôn luận, tín ngưỡng, lập hội). Tuy nhiên, không phải bao giờ các quyền tự nhiên đó con người cũng sẵn có thực quyền đó trong xã hội, lúc này thuộc tính xã hội xuất hiện để chỉ rõ rằng các quyền đó phải được xã hội thừa nhận. Một khi xã hội được tổ chức, quản lý thông qua Nhà nước thì chính Nhà nước với quyền lực của mình sẽ thừa nhận các quyền của con người bằng cách ban hành các quy phạm pháp luật.
Việt Nam là quốc gia dân chủ, mong muốn của chúng ta là người dân được làm chủ cuộc sống của mình, và chính người dân quyết định các quyền con người, quyền công dân thông qua các quy định pháp luật. Khi đọc Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ để khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc".