Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2008 đưa ra khái niệm TTHS là khái niệm pháp lý dùng để chỉ trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự). Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án); người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án); người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bào chữa; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định và phiên dịch), của cá nhân, cơ quan và tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật hình sự [tr.9-10] Ngoài ra TTHS cũng còn được đề cập và hiểu là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng từ khi có dấu hiệu tội phạm xảy ra cho đến khi vụ án hình sự được xem xét giải quyết bằng quyết định hoặc bản án của Tòa án. Hoạt động TTHS trong bất kỳ Nhà nước nào luôn là hoạt động được điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định của luật.
Điều này được giải thích bởi lý do đây là hoạt động liên quan đến việc phát hiện, khám phá tội phạm và kẻ phạm tội – lĩnh vực liên quan đến các lợi ích quan trọng hàng đầu mà Nhà nước phải quan tâm bảo vệ. Phòng chống tội phạm luôn là hoạt động ưu tiên của 7 Nhà nước. Điều tra khám phá tội phạm, kẻ phạm tội, xác định các tình tiết sự kiện của vụ án đã xảy ra ở thời quá khứ và các thông tin, dấu vết để lại của tội phạm luôn có sự biến đổi do tác động của các quy luật khách quan. Trong hoạt động này việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế Nhà nước là cần thiết khách quan, không thể tránh khỏi và hệ quả của nó là sự hạn chế, xâm phạm đến các quyền và tự do hiến định của công dân.
Vì vậy luật phải có những quy định chặt chẽ về căn cứ, thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế này. Để thực hiện nhiệm vụ khám phá tội phạm và kẻ phạm tội Nhà nước thành lập hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng với các thẩm quyền, chức năng khác nhau như Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án. Có thể nói rằng hoạt động TTHS là một dạng hoạt động quyền lực Nhà nước do các cơ quan Nhà nước tiến hành nhằm thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật của Nhà nước. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, đến các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân.
Các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp do luật định để khám phá tội phạm, đối tượng phạm tội và trừng phạt theo quy định của pháp luật, bảo đảm nguyên tắc tội phạm không tránh khỏi hình phạt. Do vậy hoạt động TTHS là hoạt động quyền lực công – hoạt động vì lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội. Nhiệm vụ phát hiện nhanh chóng, kịp thời tội phạm và đối tượng phạm tội, phát hiện, thu thập đầy đủ các chứng cứ làm cơ sở xác định lỗi của đối tượng phạm tội. Toàn bộ quá trình xem xét, giải quyết vụ án hình sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án là khách quan, công minh, xử đúng người, đúng tội và áp dụng hình phạt công bằng cho đối tượng phạm tội, không là oan người vô tội.
Bên cạnh đó bất kỳ hoạt động nào của con người cũng có thể diễn ra dưới hình thức nhất định và có thể phân chia thành những giai đoạn được liên 8 kết với nhau bởi những mối quan hệ hoặc nguyên tắc nào đó nhằm thực hiện được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất. Hoạt động TTHS cũng nằm trong quy luật chung đó. Khái niệm TTHS có nghĩa là quá trình, tiến trình và quá trình, tiến trình này vận động tiến lên phía trước để đạt đến mục tiêu của nó là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án thông qua những giai đoạn hay những chặng đường nối tiếp nhau. Không phải vụ án hình sự nào cũng có thể được khám phá, sự thật khách quan được xác định ngay lập tức, kể cả trong trường hợp phạm tội quả tang mà luôn đòi hỏi phải có thời gian, phải tiến hành những hành vi tố tụng cần thiết ngay sau khi phát hiện tội phạm để có thể đưa ra Tòa án xét xử.
Bản thân việc xét xử của Tòa án cũng đòi hỏi thời gian và đòi hỏi hàng loạt những họat động tố tụng kèm theo từ khi nhận được hồ sơ vụ án cho đến khi tuyên bản án hay quyết định. Bản chất của hoạt động TTHS là sự tương tác giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa, xét xử) do các chủ thể khác nhau thực hiện và nội dung của sự tương tác và vai trò của các chủ thể rất khác nhau trong toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án hình sự. Mỗi chức năng cơ bản, mỗi chủ thể tố tụng đều có vai trò của mình trong tiến trình đó. Họat động TTHS không phải là tổng thành cơ học của những hành vi tố tụng tùy nghi d ocác chủ thể tham gia vào hoạt động này thực hiện mà là tổng thành của hệ thống các hành vi tố tụng liên kết chặt chẽ với nhau, có quan hệ ảnh hưởng qua lại với nhau một cách biện chứng và hệ thống này được phân chia thành các giai đoạn khác nhau mà thông thường tiến trình tố tụng của bất kỳ vụ án nào cũng phải trải qua.
Đặc điểm của hoạt động TTHS nói chung cũng như của từng hành vi tố tụng riêng lẻ là chúng luôn được luật quy định và được tiến hành theo trình tự, hình thức do luật định. Yêu cầu này của luật là yêu cầu chung trong mọi vụ án hình sự và bằng cách đó bảo đảm tính hợp pháp cho hoạt động TTHS và những kết quả mà nó đạt được, bảo đảm các quyền và tự do hiến định của những người tham gia trong tố tụng, 9 bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án luôn khách quan, công minh [22, tr.25] TTHS có những đặc điểm đó là: Luôn có tiến trình theo thời gian với các bước, các giai đoạn nhất định, bắt đầu khi có thông tin về tội phạm và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Mỗi một tiến trình thời gian được gọi là một giai đoạn tố tụng hình sự. Nói cách khác giai đoạn tố tụng hình sự là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một vụ án hình sự (Từ khi cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra tiếp nhận, thụ lý tin báo, tố giác tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố đến khi vụ án được giải quyết xong).
Trong mỗi một giai đoạn của tố tụng hình sự sẽ xác định được một thời điểm bắt đầu, một thời điểm kết thúc, xác định được cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu thực hiện chức năng của tố tụng nhằm buộc tội hoặc kết tội… Quá trình tố tụng hình sự gồm các giai đoạn diễn ra liên tục và nối tiếp nhau tạo thành một thể thống nhất, chúng tôi cho rằng tố tụng hình sự có bốn giai đoạn là: Giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (còn gọi là giai đoạn khởi tố hoặc giải quyết nguồn tin), tiếp theo là giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự có quy định một số thủ tục thi hành án nhưng thi hành án không được gọi là một giai đoạn của tố tụng hình sự như các thủ tục đặc biệt giám đốc thẩm và tái thẩm được quy định trong Bộ luật nhưng không phải là một gia đoạn của tố tụng hình sự. Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm quyền tiến hành, hoạt động chính là nhằm thu thập đầy đủ các chứng cứ chứng minh tội phạm. Giai đoạn điều tra được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp.
Nếu theo nghĩa rộng thì giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc việc điều tra , bản kết luận điều tra và hồ sơ 10 được chuyển đến Viện kiểm sát để truy tố hoặc vụ án được đình chỉ. Giai đoạn điều tra theo nghĩa hẹp bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền điều tra ban hành Bản kết luận điều tra chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát đề đề nghị truy tố. Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu toàn diện quá trình điều tra theo nghĩa rộng nhằm làm rõ hơn vai trò của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra vụ án hình sự.23] Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là hoạt động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh.