Phần mở đầu Chương II: Cơ sở lý thuyết về thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa trong bối cảnh thực thi rào cản xanh Chương III: Thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Châu Âu trong bổi cảnh EU thực thi các chính sách xanh Chương IV: Dự báo triển vọng và đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Châu Âu trong bối cảnh EU thực chi các chính sách xanh CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA TRONG BỐI CẢNH THỰC THI RÀO CẢN XANH 2.1 Tổng quan về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu 2. Khái niệm xuất khẩu Khái niệm xuất khẩu nói chung được rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập, phân tích theo từng chủ đích nghiên cứu riêng. Bùi Xuân Lưu (2001) định nghĩa “xuất khẩu là việc bán hàng hóa dịch vụ cho nước ngoài” trong giáo trình Kinh tế ngoại thương. Feenstra and Taylor (2010) đưa ra một định nghĩa khác về xuất khẩu trong giáo trình Thương mại quốc tế của đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Ở đây, xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Một số tác giả đã đưa ra định nghĩa cụ thể về xuất khẩu hàng hoá. Wild (2003) đã nêu quan điểm trong cuốn sách "International Business - The challenges of globalization" rằng hành động đưa hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác thì được coi như là xuất khẩu hàng hóa.
Joshi (2005) cũng thống nhất quan điểm về xuất khẩu hàng hóa như của John J. Wild trong một công trình nghiên cứu về hoạt động Marketing quốc tế nhưng có bổ sung thêm định nghĩa về các bên tham gia hoạt động xuất khẩu hàng hóa: nhà xuất khẩu là người bán sản phẩm có trụ sở tại nước xuất khẩu, trong khi nhà nhập khẩu là người mua ở nước ngoài. Xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa sản xuất trong nước ra thị trường bên ngoài trong thương mại quốc tế. Các cơ quan Chính phủ Hoa Kỳ định nghĩa xuất khẩu hàng hóa không giới hạn ở việc vận chuyển một mặt hàng, một chuyến hàng ra khỏi Hoa Kỳ đến nước ngoài, tức là xuất khẩu hàng hóa không chỉ bao gồm việc vận chuyển các mặt hàng qua biên giới -bằng các chuyển động vật lý của ô tô, máy bay, tàu biển, tàu thủy hoặc các hình thức khác của đường không, đường sắt, đường thủy, đường bộ.
Xuất khẩu hàng hóa được thực hiện bằng cả vật lý hoặc điện tử chẳng hạn như thông qua email, thảo luận qua điện thoại, fax, đăng tải trên internet và nhiều phương tiện phi vật lý khác. Theo Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Khoản 1, Điều 28). Nói tóm lại, có nhiều cách hiểu về xuất khẩu hàng hóa, tuy nhiên hiểu một cách khái quát nhất thì xuất khẩu hàng hóa là hàng hóa được sản xuất ở một quốc gia và bán cho người mua ở một quốc gia khác. Xuất khẩu cùng với nhập khẩu tạo nên thương mại quốc tế.
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế đã có từ lâu đời và phát triển đến giai đoạn hiện nay. Cơ sở của xuất khẩu hàng hóa là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa (bao gồm hàng hóa vô hình và hữu hình) trong nước. Cho tới khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia. Ban đầu, hoạt động xuất khẩu hàng hóa chỉ dựa vào hàng đổi hàng, nhưng theo thời gian, chúng trở nên đa dạng hơn.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian, có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được tiến hành trên quy mô quốc gia hoặc nhiều quốc gia. Xuất khẩu hàng hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực và điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng đến phương tiện sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả những trao đổi như vậy đều nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia liên quan. Xuất phát từ bản chất, xuất khẩu hàng hóa không phải là hoạt động kinh doanh đơn lẻ mà là một hệ thống các hoạt động kinh doanh có tổ chức, dưới sự quản lý giám sát bởi các cấp nhà nước cả ở bên trong lẫn bên ngoài nhằm đem lại các nguồn lợi nhuận, ngoại tệ, đồng thời đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế cho các quốc gia.
Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Như vậy, có thể hiểu xuất khẩu hàng hóa chính là việc bản hàng hóa của quốc gia này sang quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Cách thức xuất khẩu Xuất khẩu trực tiếp: việc xuất khẩu các loại hàng hóa và dịch vị do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Xuất khẩu ủy thác: là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị XNK đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu do đó nhà sản xuất và qua đó được hưởng một số tiền nhất định gọi là phí uỷ thác. Buôn bán đối lưu (Counter - trade): là một trong những phương thức giao dịch xuất khẩu trong xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Trong phương thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương. Vì đặc điểm này mà phương thức này còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng.
Xuất khẩu hàng hóa theo nghị định thư: là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường làđể gán nợ) được ký kết theo nghị định thư giữa hai Chính phủ. Đây là một trong những hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường: tìm kiếm bạn hàng, mặt khách không có sự rủi ro trong thanh toán. Hình thức này chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ. Xuất khẩu tại chỗ: là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển rộng rãi, do những ưu việt của nó đem lại.
Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn mua được. Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu. Gia công quốc tế: là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Tạm nhập tái xuất: là một hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu.
Khái niệm và nội dung thúc đẩy xuất khẩu 2.1 Khái niệm Nguyễn Thị Nhiễu (2003) cho rằng thúc đẩy xuất khẩu hay xúc tiến xuất khẩu là các hoạt động được thiết kế để tăng xuất khẩu của một đất nước hay một doanh nghiệp. Khái niệm này không đề cập đến chủ thể của hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Ở tầm vĩ mô, Nguyễn Thị Nhiễu (2003) cũng đưa ra khái niệm mang tính khái quát về hoạt động xúc tiến xuất khẩu theo quan điểm của ESCAP rằng xúc tiến xuất khẩu là chiến lược phát triển kinh tế nhấn mạnh đến việc mở rộng xuất khẩu thông qua các biện pháp chính sách khuyến khích, hỗ trợ cao nhất cho hoạt động xuất khẩu. Trên cơ sở đó, Nguyễn Thị Nhiễu (2003) đưa ra khái niệm cụ thể xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ như sau: Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ là những biện pháp chính sách của Nhà nước có tác động trực tiếp hay gián tiếp khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp, của các ngành và của đất nước.
Có thể thấy rằng, khái niệm về xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ này khá phù hợp với mục tiêu tăng cường các hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của các quốc gia trong điều kiện toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại hiện nay. Khái niệm này cũng rất phù hợp với quan điểm, định hướng của Chính phủ Việt Nam. Theo quan điểm của Đỗ Thị Hương (2009), xuất phát từ chức năng quản lý Nhà nước của Chính phủ, xúc tiến xuất khẩu hay thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ được hiểu là tổng thể các chính sách, biện pháp và công cụ được Nhà nước sử dụng để tìm kiếm, lôi kéo, hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chức nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của quốc gia sang thị trường mục tiêu. Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và cung cấp các dịch vụ công trong xúc tiến xuất khẩu.
Cụ thể là, Chính phủ tạo dựng môi trường thuận lợi (hành lang pháp lý, cơ sở hạ tầng, .) và mạng lưới các tổ chức xúc tiến xuất khẩu, thực hiện các hoạt động như nghiên cứu và dự báo thị trường, lôi kéo đối tác và tạo dựng hình ảnh quốc gia thông qua tổ chức các sự kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến mang tầm quốc gia.