đặt vấn đề kinh doanh tập trung vào lý giải cơ hội kinh doanh của mặt hàng kinh doanh, tình hình thị trường, nguồn cung và nhu cầu của sản phẩm đó trên thị trường trong và ngoài nước, chất lượng sản phẩm và thị hiếu tiêu dùng sản phẩm đó trên thị trường mục tiêu, giá cả. Phần phân tích cơ hội kinh doanh và kế hoạch thực hiện phương án kinh doanh bao gồm các nội dung đặt rõ mục tiêu kinh doanh, đề xuất các kế hoạch và biện pháp thực hiện, tính toán các chỉ tiêu kinh doanh và cách phòng tránh rủi ro kinh doanh nếu có. Phương án kinh doanh đề cập đến một số các chỉ tiêu định lượng sự kiện bao gồm chỉ tiêu về lợi nhuận ròng, lợi nhuận thuần, chỉ tiêu điểm hòa vốn, thời gian và vòng quay của vốn,… Phần kết luận của phương án kinh doanh đề cập đến các nội dung về những hiệu quả kinh tế - xã hội của phương án. Thông thường sẽ nêu rõ số lượng việc làm tạo ra, thu nhập bình quân, số thuế đóng góp cho ngân sách địa phương, trung ương, các hiệu quả xã hội hay an toàn tại địa phương.
Đặc biệt là phải khẳng định quyết tâm thực hiện phương án kinh doanh với ý chí tinh thần cao. Tính khả thi của phương án và sự chấp nhận rủi ro mạo hiểm sẽ được khẳng định một cách chắc chắn. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng 1. Giao dịch và đàm phán Có 3 phương thức giao dịch đàm phán và mỗi phương thức sẽ có các nghiệp vụ tương ứng.
Các phương thức giao dịch đàm phán đó là: (i) Giao dịch đàm phán qua thư tín Chào mua (Buy offer) được định nghĩa là “lời đề nghị bước vào giao dịch mua bán được người Mua đưa ra yêu cầu người bán báo cho mình giá cả và các điều kiện mua bán hàng hóa” (Tạ Lợi, 2018). Có hai loại chào hàng chính là chào mua tự do (hỏi hàng) và chào hàng cố định (đặt hàng). Hoàn giá (Counter – offer) là “sự mặc cả về giá hoặc các điều kiện giao dịch, thông thường hoàn hóa bao gồm nhiều sự trả giá” (Tạ Lợi, 2018, tr. Chấp nhận (Acceptance) là “sự đồng ý hoàn tất cả mọi điều hiện của chào hàng (đặt hàng) để kết thúc quá trình hoàn giá” (Tạ Lợi, 2018, tr.
Xác nhận (Confirmation) là “văn bản thống nhất những điều đã thỏa thuận mua bán có các bên tham gia ký xác nhận” (Tạ Lợi, 2018, tr. (ii) Giao dịch đàm phán qua các phương tiện truyền thông Điện thoại là phương tiện truyền thông được sử dụng trong giao dịch đàm phán nhiều nhất do có thể áp dụng trong nhiều trường hợp và trong nhiều bước của giao dịch ngoại thương. Có thể sử dụng điện thoại khi thực hiện hỏi hàng, đặt hàng, chào hàng, hoàn giá, chấp nhận và xác nhận. Trước khi sử dụng điện thoại để đàm phán giao dịch cần phải thực hiện các công việc bao gồm việc đặt ra các mục tiêu đàm phán qua điện thoại, lập phương án đàm phán qua điện thoại, soạn thảo những ý định đàm phán và ngôn từ khi nói trong quá trình trao đổi, tránh những hiện tượng vô ý trong giao dịch qua điện thoại như trả lời cộc lốc, cúp máy bất ngờ để chờ ống nghe… Ngoài ra còn có thể giao dịch đàm phán qua các phương tiện truyền thông như email, diễn đàn.
Thường khi sử dụng loại hình giao dịch này sẽ có một bên đưa ra những điều kiện mua bán để người kia dựa trên cơ sở đó mà tìm kiếm và chủ động liên hệ giao dịch. 12 (iii) Giao dịch đàm phán qua gặp gỡ trực tiếp: Khi tổ chức đàm phán có năm nguyên tắc thể hiện cần phải tuân theo là: ● Thể hiện tinh thần tích cực trong quá trình đàm phán, Trong quá trình đàm phán, ngay cả khi khó khăn nhất, những người chuyên nghiệp luôn có cách nhìn lạc quan. ● Luôn tỏ ra đáng tín nhiệm trong đàm phán bằng việc quyết đoán và sự chân thành. ● Không lãng phí thời gian của mình và của đối tác.
● Luôn luôn cẩn trọng trong đàm phán. ● Thể hiện sự nghiêm túc trong đàm phán. Ký kết hợp đồng Ký kết hợp đồng ngoại thương được định nghĩa là “những nghiệp vụ liên quan từ hai bên trở lên” (Tạ Lợi, 2018, tr. Ngoài ra, các giao dịch ký xác nhận không nhất thiết phải diễn ra cùng một lúc, vì vậy việc ký hợp đồng thường dựa trên việc ai là người ký xác nhận cuối cùng và thời điểm nó được gửi lại cho bên kia để xác nhận tính hợp pháp.
Việc giao kết hợp đồng trực tiếp một lần có nghĩa là hai bên tham gia hợp đồng cũng gặp gỡ nhau và tổ chức việc ký kết hợp đồng. Việc ký kết gián tiếp và trao hợp đồng luân phiên (qua fax, e-mail .) thường theo thứ tự một bên ký trước, bên kia ký sau và gửi lại. Trong trường hợp bình thường, người mua sẽ ký sau và lấy bản gốc để làm thủ tục nhập khẩu. Đối với hợp đồng ký bằng fax, email, chỉ một bên ký và đóng dấu bản chính, do đó, tính pháp lý của hợp đồng gián tiếp cần kiểm tra như sau: Kiểm tra các điều khoản pháp lý liên quan (kể cả chữ ký điện tử) của hợp đồng ký bằng fax, email.
; Kiểm tra xem chữ ký và con dấu của nhà giao dịch có giống hệt với giao dịch ban đầu hay không; kiểm tra hộp thư, số fax và địa điểm giao hàng để xác thực. Khi đã có sự bảo đảm tính pháp lý của các bản hợp đồng, điều kiện, bối cảnh ký hợp đồng và gửi lại cho đối tác sẽ được tính vào dấu bưu cục gửi đi lần đầu tại nơi gửi hoặc thời điểm fax, email cho bên kia. Vì vậy, việc ký hợp đồng gián tiếp cần có sự theo dõi, đốc thúc dài hơn. Nghiệp vụ đôn đốc và nhận hợp đồng ký gián tiếp cũng đòi hỏi phải sát sao, cẩn thận.
Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu Xin giấy phép (nếu có), chính phủ của các nước đại diện cho lợi ích của dân chúng sẽ luôn phải bảo vệ quyền lợi cho toàn xã hội, đôi khi những lợi ích này không hoàn toàn trùng hợp với lợi ích của các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. Tất 13 cả các nước đều áp dụng những biện pháp để bảo vệ những lợi ích quốc gia trong mối quan hệ ngoại thương. Tuy nhiên, với một số loại hàng hóa đặc thù, việc duy trì cấp giấy phép xuất khẩu sẽ có một số quy tắc loại trừ nhất định tùy theo quy định của mỗi quốc gia. Phải chuẩn bị đầy đủ các loại hồ sơ theo yêu cầu để xin cấp giấy phép xuất khẩu từ các cơ quan có thẩm quyền khi doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng đó.
Như vậy, tùy vào một số trường hợp cụ thể và đặc biệt thì việc xin phép xuất khẩu trở thành nghiệp vụ tất yếu. Kiểm tra xác nhận thanh toán. Đây là nghiệp vụ quan trọng khi doanh nghiệp thực hiện hợp đồng xuất khẩu vì sẽ xảy ra rủi ro cao cho doanh nghiệp xuất khẩu nếu xảy ra vướng mắc trong thanh toán. Thanh toán và thời điểm giao hàng tuy là hai nghiệp vụ độc lập nhưng lại có liên kết chặt chẽ.
Để tránh được các rủi ro về thanh toán thì doanh nghiệp xuất khẩu cần kiểm tra các loại chứng từ được quy định là chứng từ thanh toán trong thư tín dụng và nội dung của chúng. Chuẩn bị hàng xuất khẩu: Doanh nghiệp xuất khẩu cần quan tâm đặc biệt đến việc chuẩn bị hàng xuất khẩu sau khi thanh toán của khách hàng đã được tiến hàng kiểm tra và xác thực. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp xuất khẩu là doanh nghiệp sản xuất thì cần chú ý đến việc chuẩn bị kế hoạch sản xuất, sẵn sàng lao động, thiết bị và vật tư để tiến hành sản xuất theo kế hoạch và chuẩn bị kho hàng xuất khẩu. Cần cẩn thận trong tất cả các khâu trong quá trình sản xuất do đây là hàng hóa xuất khẩu vì vậy tiêu chuẩn đánh giá hàng hóa sẽ rất cao và khắc khe theo chuẩn quốc tế.
Kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, khi khai hàng hóa được sản xuất hay chế biến cần có sự đánh giá, kiểm tra có lấy được các chứng thư làm minh chứng về số lượng và chất lượng hàng hóa do hàng hóa xuất khẩu theo tiêu chuẩn quốc tế nên thường có tiêu chuẩn cao hơn và khắc khe hơn. Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tổ chức nghiệp vụ theo 2 cách tùy thuộc vào số lượng của lô hàng xuất khẩu và quy định về người ký phát chứng thư: doanh nghiệp xuất khẩu tự ký phát giấy chứng nhận chất lượng và cơ quan thứ ba được chỉ định phát hành giấy chứng nhận chất lượng và số lượng. Trong trường hợp đầu tiên, cần tự tổ chức kiểm tra hàng hóa xuất khẩu do phòng xuất khẩu hoặc hội đồng thực hiện sau đó phòng xuất khẩu (hoặc hội đồng) sẽ soạn thảo chứng nhận số lượng và chất lượng. Trường hợp thứ hai, để hàng hóa được kiểm tra và doanh nghiệp nhận được chứng thư, doanh nghiệp sẽ phải mời các nhà giám định đến để tổ chức kiểm tra.
14 Thuê chuẩn chăng chính (nếu có), nguyên nhân thường là do cơ sở giao hàng xác định chuyển rủi ro hàng hóa, chi phí, nghĩa vụ và các điều kiện. Cần thực hiện những nghĩa vụ sau để thực hiện việc thuê vận chuyển chăng chính: Lấy thông tin về giá cước và lịch trình từ đại lý vận chuyển hoặc hãng vận chuyển; Thuê dịch vụ cần thiết như bốc xếp, con công,… đăng ký chuyển hàng sau khi chọn ra hãng vận chuyển và chuyến vận chuyển; Giao hàng cho bên hãng vận chuyển, ký biên bản giao hàng cho người vận chuyển; Cung cấp thông tin bổ sung cho hãng vận chuyển chuẩn bị vận đơn; Đổi biên lai hay biên bản lấy vận đơn và thanh toán cước phí trả trước. Mua bảo hiểm (nếu có), các doanh nghiệp xuất khẩu cần mua bảo hiểm nếu như mua bán theo điều kiện CIP, CIF. Làm thủ tục hải quan xuất hàng.
Tùy theo quy trình thủ tục và chứng từ của mỗi quốc gia mà thực hiện việc thông quan hàng hóa theo quy định của quốc gia đó. Các trường hợp cần làm thủ tục hải quan xuất hàng là gia công xuất khẩu, quá cảnh, chuyển khẩu, tái xuất, hàng xuất khẩu. Giao hàng xuất khẩu: Đối với hàng phải lưu kho, lưu bãi, nhà xuất khẩu giao hàng cho chủ kho hay chủ cảng để sau đó chủ kho hay chủ cảng chủ động giao hàng lên tàu.