phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Lý luận chung về thúc đẩy xuất khẩu chè của tỉnh Nghệ An Chƣơng 2. Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu chè của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2001 đến 2010 Chƣơng 3. Phƣơng hƣớng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu chè của tỉnh Nghệ An đến năm 2015.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CHÈ CỦA TỈNH NGHỆ AN 1. Tầm quan trọng của thúc đấy xuất khẩu chè đối với tỉnh Nghệ An. Đặc điểm cây chè và xuất khẩu chè Chè là loại cây công nghiệp dài ngày, trồng một lần có thể cho thu hoạch nhiều năm. Tuổi thọ của chè kéo dài từ 50 - 70 năm, nếu chăm sóc tốt chè có thể sống tới hàng trăm năm.
Ở Việt Nam, cây chè đã có từ hàng ngàn năm nay, một số cây chè ở Suối Giàng (Nghĩa Lộ) có tuổi thọ rất cao, từ 300 - 400 năm. Vì vậy, Việt Nam còn đƣợc xem là một trong những cái nôi của cây chè. Chè là một là một loại thực vật có những lá non chứa các chất liệu đặc biệt để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu uống của con ngƣời. Ngoài tác dụng giải khát ra chè còn là một loại dƣợc liệu quý.
Nƣớc chè có tác dụng chống ung thƣ, tiêu hoá mỡ, kích thích tiêu hoá, tăng khả năng làm việc, chống nhiễm xạ… bởi trong chè chứa nhiều cafein, vitamin, tinh dầu, đạm, đƣờng và nhiều loại sinh tố khác. Ngoài ra, chè còn chứa hỗn hợp tamin có tác dụng giải khát, gây cảm giác hƣng phấn và kích thích tiêu hoá. Do có nhiều tác dụng nhƣ vậy nên chè đã đƣợc dùng nhƣ một thứ đồ uống từ hàng nghìn năm nay. Vào thế kỷ thứ 7 chè đã trở thành một thứ đồ uống dân tộc ở Trung Quốc, từ đó đƣợc đƣa sang Nhật và nhiều nƣớc khác ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi.
Chè đƣợc trồng chủ yếu ở trung du, miền núi và có giá trị kinh doanh tƣơng đối cao. Nghệ An là tỉnh có nhiều đất đồi núi thích hợp với cây chè. Trong những năm qua, tỉnh đã chú trọng phát triển cây chè công nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế khá rõ. Nhìn chung cây chè có các đặc điểm kinh tế chủ yếu sau đây: 7 - Thứ nhất, đời sống kinh tế của cây chè tƣơng đối dài, khoảng từ 50 đến 70 năm hoặc có thể hơn.
Do vậy những biện pháp cơ bản trong khâu trồng mới nhƣ làm đất, mật độ kiến thiết đƣơng bộ, bảo vệ chống xói mòn cũng nhƣ các giải pháp về chính sách kinh tế tác động đến cây chè có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nếu làm tốt các biện pháp này thì cây chè sẽ có khả năng cho năng suất cao, ổn định và chất lƣợng tốt. - Thứ hai, ngành chè có tính sinh lời cao. Do chu kỳ kinh doanh của cây chè lâu năm, ít phải trồng mới so với một số cây trồng khác, trong cùng điều kiện sản xuất nhƣ nhau thì sản xuất chè cho hiệu quả cao hơn.
Mặt khác, với sản xuất chè: một ha chè với năng suất 4-5 tấn búp/năm tƣơng đƣơng 5-6 ha lúa hai vụ (năng suất 5-6 tấn/ha) và xuất khẩu trung bình đạt 1000 - 1500USD/tấn. - Thứ ba, chè có thời gian thu hoạch dài và tƣơng đối rải đều trong nhiều tháng (thƣờng khoảng 9 tháng). Sản phẩm thu hoạch của chè là búp tƣơi nên sau một thời gian ngắn chè lại cho ra những mầm non, qua khâu chăm sóc sẽ cho thu hoạch vụ tiếp. Chè là loại cây trƣởng thành mạnh ở vùng trung du miền núi, chống chịu tốt với thời tiết, nên tính mùa vụ trong sản xuất chè không cao nhƣ những ngành sản xuất khác trong nông nghiệp mà nó rải đều trong nhiều tháng của năm.
Đặc điểm này có thể giúp cho ngƣời lao động tránh tình trạng bán thất nghiệp vốn khá phổ biến trong sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta. - Thứ tƣ, việc trồng chè cần lƣợng vốn đầu tƣ lớn, tỷ suất đầu tƣ cho 1ha chè công nghiệp khá cao. Đầu tƣ ban đầu cho 1ha chè trồng mới thƣờng từ khoảng 25 đến 30 triệu đồng nhƣng sau 4 năm mới cho sản phẩm và ƣớc tính khoảng 7 năm mới thu hồi đƣợc vốn. Thông thƣờng thì tới năm thứ tƣ (năm chè cho thu hoạch), ngƣời trồng chè mới thu đƣợc 30% gốc và 50% lãi của 3 năm đầu.
Năm thứ năm: thu 30% gốc và 50% lãi của 3 năm đầu và 100% lãi 8 phát sinh. Năm thứ sáu: thu 30% gốc và 100% lãi phát sinh phải thu trong năm. Năm thứ bảy: thu nốt 10% gốc còn lại và 100% lãi phát sinh (Số liệu do Phòng kỹ thuật, công ty đầu tƣ và phát triển chè Nghệ An cung cấp). Nhƣ vậy, hầu hết các hộ trồng chè đều phải vay dài hạn để đầu tƣ cho cây chè.
Ngoài ra, trong quá trình kinh doanh khai thác sản phẩm ngƣời trồng chè còn phải đầu tƣ thêm cho các hoạt động nhƣ công lao động, phân bón, thuốc trừ sâu… Do đó, đây cũng là một đặc điểm kinh tế cần hết sức lƣu ý đối với ngƣời trồng chè trong việc huy động, tận dụng các nguồn vốn. - Thứ năm, sản xuất và xuất khẩu chè thu hút một lƣợng lao động khá lớn. Ngành chè Việt Nam hiện đã và đang tạo việc làm cho 6 triệu lao động với thu nhập trung bình 19,5 triệu đồng/ha; trồng chè cao sản thu nhập từ 60 đến 90 triệu đồng/ha. Vì vậy có thể nói cây chè là cây “xoá đói giảm nghèo”, điều hoà lao động từ đồng bằng lên các vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần phát triển kinh tế miền núi và bảo vệ an ninh biên giới.
Trồng chè cũng chính là “phủ xanh đất trống đồi trọc”, cải thiện môi trƣờng sinh thái. Với phƣơng châm trồng chè kết hợp nông lâm, đào dãy hào giữa các hàng chè để giữ mùn giữ nƣớc, sử dụng phân bón hợp lý… ngành chè đã gắn kết đƣợc phát triển kinh tế với bảo vệ môi trƣờng. Là loại cây lá nhiệt đới rất thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhƣỡng ở nƣớc ta nói chung và Nghệ An nói riêng, cây chè có các đặc điểm kỹ thuật sau: * Thời tiết khí hậu: - Nhiệt độ: nhiệt độ bình quân hàng năm thích hợp với cây chè là từ 18- 230C, tuỳ giống mà nhiệt độ khác nhau. Chè Shan 15-200C, chè trung du và một số giống chè khác từ 20-280C, nhiệt độ thấp quá hay cao quá đều ảnh hƣởng xấu đến việc phát triển của cây chè vì thế cần có biện pháp che bóng, giữ ẩm, tƣới nƣớc… thích hợp.
9 - Ánh sáng: Chè là cây ƣa bóng, ƣa ẩm, giai đoạn chè con cần ít ánh sáng, chè kiến thiết cơ bản, chè kinh doanh có cây che bóng hạn chế đƣợc một số loài sâu bệnh, góp phần cải tạo đất, chè phát triển lâu bền hơn. Ở Việt Nam, chè đƣợc che bóng 40-50% ánh sáng thì cho năng suất, chất lƣợng cao. - Độ ẩm: Yêu cầu lƣợng mƣa tối thiểu là 1000mm/năm, độ ẩm không khí thích hợp là 85-90%. * Đất đai: - Độ pH thích hợp là 4,5-5,5.
- Chè thích hợp với vùng đất rộng hay khô cạn do vậy tầng dầy của đất trồng tối thiểu là 60cm. Thích hợp với đất thịt nhẹ đến thịt nặng, giữ ẩm thoát nƣớc nhanh, phát triển tốt trên vùng đồi núi có độ cao từ 70- 1000m. - Có thể trồng chè bằng hạt hoặc dâm cành. Chè là cây trồng có nguồn gốc tự nhiên từ lâu đời.
Trƣớc đây, sản xuất và chế biến chè mang tính tự phát, tự cung tự cấp nhƣng ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, sản xuất và chế biến chè cũng phát triển theo, thị trƣờng chè đã trở thành thị trƣờng rộng lớn. Chè có thể dùng tƣơi hay qua chế biến với nhiều loại khác nhau nhƣ chè xanh, chè đen, chè vàng… Hiện nay chè là một trong những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao và tiềm năng xuất khẩu lớn. Một ha chè thâm canh thu hoạch đƣợc 10 tấn búp tƣơi chế biến đƣợc hơn 2 tấn chè khô, đem xuất khẩu sẽ thu đƣợc một lƣợng ngoại tệ tƣơng đƣơng với khi xuất khẩu khoảng 200 tấn than và đủ để nhập khẩu khoảng 46 tấn phân hoá học. 10 Trên thế giới có khoảng 30 nƣớc trồng chè nhƣng có tới 100 nƣớc uống chè.
Nhƣ vậy tiềm năng về thị trƣờng của chè Việt Nam rất dồi dào. Tuy nhiên, tốc độ phát triển cây chè của ta so với thế giới còn chậm. Sản xuất chè của tỉnh Nghệ An có nhiều thuận lợi: Điều kiện thổ nhƣỡng, khí hậu rất thích hợp với cây chè. Bên cạnh đó, lao động là lợi thế so sánh của nƣớc ta nói chung, của tỉnh Nghệ An nói riêng, đặc biệt là lao động nông nghiệp với kinh nghiệm lâu đời trong trồng và chế biến chè.
Xuất khẩu chè có những đặc điểm nổi bật nhƣ sau : Thứ nhất, giá chè xuất khẩu vào các thời kì khác nhau trong năm sẽ rất khác nhau nguyên nhân là do việc sản xuất chè mang tính thời vụ và phụ thuộc vào thời tiết nên chất lƣợng chè sẽ thay đổi. Cũng nhƣ tất cả các loại nông sản khác thì cây chè cũng mang tính thời vụ, có thời gian sinh trƣởng theo mùa, thƣờng là mùa hè. Do vậy, ngƣời trồng chè cần nắm rõ các quy luật sản xuất mặt hàng chè, làm tốt công tác chuẩn bị trƣớc mùa thu hoạch, đặc biệt là chuẩn bị về lao động để nhanh chóng triển khai công tác thu mua và tiêu thụ sản phẩm. Chè cũng giống nhƣ lúa và nhiều loại nông sản khác thƣờng không ổn định, sản lƣợng lên xuống thất thƣờng do bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.
Khi khí hậu không phù hợp với cây chè thì nó sẽ cho chất lƣợng kém và sản lƣợng không cao nhƣ các năm mà thời tiết ƣu đãi. Thứ hai, chè không phải là mặt hàng thiết yếu, hay xa xỉ nên cầu co dãn theo giá thấp. Các loại sản phẩm chè là loại phục vụ trực tiếp cho nhu cầu cơ bản của cuộc sống con ngƣời nhƣng không vì sản phẩm trên thị trƣờng nhiều và rẻ mà ngƣời tiêu dùng cần nhiều sản phẩm hơn. Do những giới hạn về sinh lý nên mỗi ngƣời cũng chỉ tiêu thụ chè với số lƣợng nhất định.
Mặt khác, ngƣời sản xuất muốn cung cấp ngay một khối lƣợng lớn cho thị trƣờng cũng rất khó vì sản xuất sản phẩm chè đòi hỏi phải có thời gian, mà thời gian sản xuất lại tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản phẩm. 11 Nếu xét về khía cạnh cung cầu của sản phẩm thì chè là mặt hàng ít co giãn về cung cầu.