Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp - Chương 2: Thực trạng ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp t nh Ninh Bình - Chương 3: Chính sách thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp t nh Ninh Bình 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về khoa học và công nghệ Khái niệm khoa học Khoa học, tiếng Latin là “Scientia”, “Science” là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức thực tiễn, thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. Khoa học, theo nghĩa rộng nhất, đó là sự nghiên cứu một cách có hệ thống các hiện tượng vật chất hoặc xã hội. Theo nghĩa hẹp, đó là sự nghiên cứu các hoạt động vật chất hoặc xã hội bằng các phương thức như quan sát, thí nghiệm, trắc nghiệm, trắc lượng, nghiên cứu các quy luật phổ biến và giải thích.
Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Như vậy, hoạt động khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội, là sự khám phá của con người đối với các hiện tượng, thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan, từ đó làm thay đổi nhận thức của con người và biến chúng thành hiện thực. Phạm vi ảnh huởng của khoa học rất lớn. Xã hội càng phát triển thì khoa học cũng ngày càng phát triển và phân ngành của khoa học càng chi tiết hóa và phức tạp hóa hơn.
Khái niệm công nghệ Thuật ngữ Công nghệ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Technologia” có nghĩa là một thuật ngữ ám ch đến các công cụ và mưu mẹo của con người. Trong tiếng Anh, Công nghệ là “Technology” có nghĩa là “tài nghệ học”, sự tinh xảo của tay nghề, một nghệ thuật hay một kỹ năng, bí quyết. để đạt tới sản phẩm chất lượng cao của nghề thủ công trước đó. Tùy theo ngữ cảnh và góc độ nghiên cứu mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu khác nhau.Baranson, năm 1976, công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn ch nh.
Một số tổ chức quốc tế đã đưa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau: 7 - Tổ chức UNCTAD năm 1972 cho rằng, công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, nó được mua bán trên thị trường như một hàng hóa. - Tổ chức OECD, gồm các nước phát triển châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canada lại có một định nghĩa chung: Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn ch dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước. Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã nêu “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm…”. Theo quan điểm này, công nghệ bao gồm phần cứng (công cụ, phương tiện.) và phần mềm (kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm.
Cũng cần lưu ý thêm, công nghệ là tập hợp chứ không phải tổng số, nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực. Sản phẩm của công nghệ có thể dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, vật thể hoặc phi vật thể. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đi theo quan điểm của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013. Theo đó công nghệ là toàn bộ hệ thống công cụ, phương tiện kỹ thuật, bí quyết, phương pháp tổ chức, quản lý nhằm khai thác, biến đổi nguồn lực thành các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người.
Khái niệm thành tựu khoa học và công nghệ 1. Thành tựu khoa học và công nghệ Thành tựu là những kết quả đạt được, có ý nghĩa lớn sau một quá trình hoạt động thành công Theo Wikipedia.org, thành tựu khoa học và công nghệ là những kết quả có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, trị giá gia tăng cao và thân thiện với môi trường; đóng một vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa, công nghiệp hóa các ngành sản xuất dịch vụ hiện có. Thành tựu KH&CN đang được ứng dụng vào sản xuất trong tất cả các lĩnh vực, các ngành như; Ngành nông nghiệp, công nghiệp, cơ khí hoá, điện khí hoá, tự động hoá, điện tử và tin học, vật liệu mới, công nghệ tin học KH&CN đang trở thành lực 8 lượng sản xuất trực tiếp, thời gian ứng dụng vào sản xuất được rút ngắn, tiết kiệm được chi phí, nhân công. Phạm vi ứng dụng ngày càng mở rộng, mang tính liên ngành, thậm chí liên quốc gia đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, việc đẩy mạnh ứng dụng thành tựu KH&CN vào sản xuất và đời sống càng có vai trò quan trọng. Thành tựu KH&CN là nhân tố quyết định đối với sự phát triển KT- XH, làm cho lực lượng sản xuất ngày càng hoàn thiện, năng suất lao động tăng lên, tiết kiệm được nhân lực, thời gian và kinh phí… 1. Thành tựu khoa học và công nghệ trong nông nghiệp - Dựa vào nguồn tài chính người ta chia thành tựu khoa học và công nghệ theo các dạng sau: + Thành tựu KH&CN về công cụ sản xuất: Đó là kết quả của việc sản xuất những công cụ sản xuất mới, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng công việc, … + Thành tựu KH&CN theo ngành: là kết quả của các ngành như: chăn nuôi,trồng trọt, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản. - Dựa vào đặc điểm kỹ thuật, thành tựu KH&CN được phân theo các loại sau: + Quy trình kỹ thuật và những biện pháp kỹ thuật mới: Những tiêu chuẩn kỹ thuật SXNN là sự chủ động của con người đối với sự vận động bên trong của sinh vật (cây trồng, vật nuôi).
+ Tổ chức quản lý và điều phối các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực tái SXNN những đổi mới trong quan điểm, quy định, chính sách, biện pháp quản lý vĩ mô và vi mô. + Vật tư kỹ thuật cho sản xuất bao gồm: Các loại giống mới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y. Những thành tựu KH&CN được ứng dụng vào SXNN có nội dung khác nhau, phải thỏa mãn các yêu cầu sau: Thứ nhất, tính khoa học và mới mẻ của thành tựu KH&CN. Kết quả của công trình được công bố là những thành tựu đạt được trong nghiên cứu, giá trị thực tiễn của thành tựu KH&CN được thể hiện qua việc so sánh kết quả đạt được so với những công nghệ sản xuất đã có trước đó.
Ví dụ như ưu thế cho năng suất cao của giống lúa 9 Tám Xoan đột biến là: Cho năng suất cao, khả năng chống chịu với điều kiện thổ nhưỡng rộng, kháng sâu bệnh, chất lượng cao. Thứ hai, những tiêu chuẩn cụ thể về yêu cầu kỹ thuật của một thành tựu KH&CN. Sản xuất nông nghiệp là: thời gian sinh trưởng, trọng lượng của hạt lúa giống mới hay thành phần dinh dưỡng trong tiêu chuẩn thức ăn của lợn, bò, gà…. Những tiêu chuẩn đó là những thành phần cụ thể của một thành tựu KH&CN.
Thứ ba, Phương thức kết hợp các yếu tố vật chất của thành tựu KH&CN là cần thiết cho người ứng dụng thành tựu KH&CN vào sản xuất vì nó chứa đựng những ch dẫn cụ thể về nguyên tắc vận hành. Thứ tư, những hạn chế của thành tự KH&CN là: Mức độ của sự tiến bộ tức là tại thời điểm nhất định, thành tựu KH&CN chưa đạt được kết quả mong đợi của người sản xuất. Chính những hạn chế này đòi hỏi phải có sự xuất hiện thành tựu KH&CN mới. Đặc điểm hoạt động ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và những yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Hoạt động ứng dụng thành tựu KH&CN trong SXNN có 5 đặc điểm cơ bản như sau: - Một là, phải mất thời gian tương đối dài để nghiên cứu tạo ra được những thành tựu KH&CN trong SXNN.
Điều này đặc biệt đúng với các nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi. Các giống mới muốn đưa vào sản xuất đại trà phải qua nhiều các công đoạn: Kiểm định, khảo nghiệm, sản xuất thực nghiệm với thời gian dài và kỹ thuật chặt chẽ. - Hai là, những thành tựu KH&CN trong SXNN được ứng dụng trong phạm vi nhất định do nó có những đòi hỏi về điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu., vốn đầu tư, trình độ và kinh nghiệm người sản xuất). - Ba là, các thành tựu KH&CN trong SXNN khi đưa vào thực tiễn phải được áp dụng dễ dàng, phù hợp với trình độ của tất cả mọi người đặc biệt là những người nông dân.
Đồng thời, đặc điểm này cũng góp phần làm cho các thành tựu KH&CN trở nên dễ bắt chước nên việc thực thi các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ, luật sở hữu trí tuệ gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi cần phải có sự bảo vệ của các cơ quan quản lý nhà nước. 10 - Bốn là, ứng dụng KH&CN trong SXNN có nhiều yếu tố rủi ro do SXNN phân bố trên địa bàn lớn, chịu nhiều ảnh hưởng về thiên tai, dịch bệnh… - Năm là, hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KH&CN trong SXNN gần như không vận hành theo cơ chế thị trường mà tồn tại dưới dạng “hàng hóa công” nên hoạt động nghiên cứu và chuyển giao chủ yếu theo “đơn đặt hàng” của Nhà nước và người nhận chuyển giao không phải chi trả hoặc ch phải trả rất ít chi phí. Ứng dụng thành tựu KH&CN trong SXNN chịu tác động của nhiều nhóm yếu tố, có thể được phân chia thành các nhóm yếu tố như sau: + Nhóm yếu tố về chỉnh sách: Hệ thống Luật pháp về KH&CN tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN trong SXNN.