Luận Văn Thạc Sĩ Về Thừa Kế Quyền Sử Dụng Đất và Nhà Ở Tại Thành Phố Điện Biên Phủ

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích thực tiễn thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở

1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

1.2. Pháp luật hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

1.2.1. Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo di chúc

1.2.2. Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo pháp luật

1.3. Một số điểm mới cơ bản về chế định thừa kế của Bộ luật Dân sự năm 2015

1.4. Khái niệm và đặc điểm thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

1.4.1. Khái niệm quyền sử dụng đất ở và nhà ở

1.4.2. Một số đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

1.5. Quan điểm về thừa kế theo tập quán của dân tộc Xạ Phang (Hoa)

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở TẠI THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

2.1. Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ

2.2. Một số vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo pháp luật

2.3. Một số vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo di chúc

2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ

2.4.1. Điều kiện Kinh tế - Xã hội của thành phố Điện Biên Phủ

2.4.2. Thị trường bất động sản và mật độ dân số tại thành phố Điện Biên Phủ

2.4.3. Một số nhân tố ảnh hưởng khác

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở, NHÀ Ở TẠI THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

3.1. Nhóm giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện quy định pháp luật

3.2. Nhóm giải pháp, kiến nghị về tăng cường hòa giải các tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở

3.3. Nhóm giải pháp, kiến nghị về tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý đất đai thuộc UBND các cấp với TAND thành phố Điện Biên Phủ

3.4. Nhóm giải pháp, kiến nghị đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại Điện Biên Phủ

Thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở là một vấn đề pháp lý quan trọng tại thành phố Điện Biên Phủ. Quyền thừa kế không chỉ liên quan đến việc chuyển giao tài sản mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định của các mối quan hệ gia đình và xã hội. Theo quy định của pháp luật, quyền thừa kế được thực hiện thông qua di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện quyền thừa kế này.

1.1. Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở

Thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở được hiểu là việc chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản nhà ở từ người đã mất cho người còn sống. Điều này được quy định rõ ràng trong Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan.

1.2. Tầm quan trọng của thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở

Thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nó giúp bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình và duy trì sự ổn định trong cộng đồng.

II. Thực trạng thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại Điện Biên Phủ

Thực trạng thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại Điện Biên Phủ cho thấy nhiều vấn đề phức tạp. Các tranh chấp thường xảy ra giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là khi không có di chúc rõ ràng. Điều này dẫn đến việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án gặp nhiều khó khăn.

2.1. Các tranh chấp phổ biến trong thừa kế

Các tranh chấp thường gặp bao gồm việc phân chia tài sản không công bằng, sự không đồng thuận giữa các bên thừa kế và việc thiếu thông tin về quyền lợi của mình.

2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng thừa kế

Yếu tố kinh tế - xã hội, trình độ dân trí và sự hiểu biết về pháp luật là những yếu tố chính ảnh hưởng đến thực trạng thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở

Để nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở, cần có những giải pháp cụ thể. Các giải pháp này không chỉ giúp giảm thiểu tranh chấp mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về thừa kế

Cần có sự điều chỉnh và bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của người dân.

3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật

Việc nâng cao nhận thức của người dân về quyền thừa kế và các quy định pháp luật liên quan là rất cần thiết. Các cơ quan chức năng cần tổ chức các buổi tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật cho người dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thừa kế

Nghiên cứu về thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại Điện Biên Phủ đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình thực tiễn.

4.1. Kết quả từ các vụ án thừa kế

Các vụ án thừa kế tại Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã cho thấy nhiều bất cập trong việc giải quyết tranh chấp. Việc phân tích các vụ án này giúp rút ra bài học kinh nghiệm cho các trường hợp tương tự.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho việc hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở

Kết luận về thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại Điện Biên Phủ cho thấy sự cần thiết phải có những cải cách trong quy định pháp luật. Triển vọng tương lai phụ thuộc vào việc thực hiện các giải pháp đã đề xuất.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải cách pháp luật

Cải cách pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người dân và giảm thiểu tranh chấp.

5.2. Hướng đi cho tương lai

Hướng đi cho tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức pháp luật và cải thiện quy trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở qua thực tiễn tại thành phố điện biên phủ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất ở, nhà ở tại thành phố Điện Biên Phủ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VÀ NHÀ Ở 1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 1. Khái niệm thừa kế Thừa kế có vai trò quan trọng và đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội loài người, ngay cả khi chưa có Nhà nước và luật pháp thành văn, thừa kế đã tồn tại trong các hình thái Kinh tế - Xã hội song song với sự xuất hiện của con người. Theo một số nghiên cứu nhân học và xã hội học đã được thực hiện về phong tục thừa kế phụ hệ, nơi mà chỉ có con trai mới được kế thừa.

Một số nền văn hoá sử dụng sự kế thừa mẫu hệ, nơi tài sản chỉ có thể trao cho con gái, thông thường dành cho các con trai của em gái của người quá cố; một số xã hội, thừa kế từ mẹ sang con gái. Thời cổ đại và Quốc gia hiện đại thì thừa kế quân bình mà không phân biệt, đối xử theo giới tính hay thứ tự sinh ra. Nghiên cứu về thừa kế, Ph. Ăngghen viết: Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên người mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết.

Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn nên loại này trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ [14, tr. Cùng sự phát triển của lịch sử, tập quán thừa kế của thị tộc được nhà nước chiếm hữu nô lệ thừa nhận, điều chỉnh quan hệ thừa kế trong xã hội. Cho đến khi hình thái Kinh tế - Xã hội phát triển, làm thay đổi và ra đời nhiều ngành nghề mới từ nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt nên tất yếu người đàn ông trở thành trụ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cột chính nuôi sống gia đình. Địa vị của người đàn ông trong gia đình, các thị tộc, bộ lạc được thừa nhận làm thay đổi địa vị của người phụ nữ và quan hệ thừa kế theo chế độ mẫu quyền.

Ở nước ta, quan hệ thừa kế được hình thành trên cơ sở tập quán, thói quen của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc và nó đi sâu vào trong nhận thức của người dân. Qua thời kỳ lịch sử phát triển, chế định thừa kế được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp luật nhưng tập quán thừa kế của nhiều tộc người đến nay vẫn được gìn giữ, lưu truyền đến ngày nay. Theo từ điểm luật học: “Thừa kế là sự truyền lại tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định pháp luật” [1, tr. Như vậy,có thể hiểu khái niệm: Thừa kế là việc chuyển giao tài sản cùng các quyền,nghĩa vụ gắn liền tài sản từ một người chết sang cho người còn sống theo di chúc hoặc quy định pháp luật.

Quyền thừa kế Mỗi con người sinh ra đều đã mang cho mình được quyền thực hiện ý chí không trái với pháp luật hoặc đạo đức xã hội.Trong đó, quyền thừa kế là một quyền quan trọng và trở thành một nhu cầu không thể thiếu gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân. Mỗi nhà nước, mỗi giai cấp dù có những xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi vấn đề quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp. Trên thực tế đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền thừa kế: Theo quan điểm của TS. Phạm Văn Tuyết và TS.LS Lê Kim Giang thì: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” [44].

Theo cuốn từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì: “Quyền thừa kế là quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” [1, tr.656] Quan hệ thừa kế xuất hiện, nhất là khi có Nhà nước và luật pháp thành 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn ra đời làm cho quan hệ thừa kế trở thành chế định riêng, trong đó quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thừa kế được ghi nhận, đảm bảo thực hiện không chỉ bằng pháp luật mà được điều chỉnh bởi đạo đức xã hội. Từ đó, khái niệm quyền thừa kế được xuất hiện đồng thời với quyền sở hữu, quyền và nghĩa vụ khác của chủ thể tham gia quan hệ thừa kế. Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống. Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là quyền dân sự của mỗi cá nhân trong việc để lại di sản cho người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật, nhưng chung quy lại đều phải đảm bảo được quyền của người để lại di sản.

Dưới gốc độ chủ quan, các chủ thể trong quan hệ thừa kế thì một người có quyền để lại di sản thừa kế là tài sản, thành quả lao động, các quyền, lợi ích của mình cho người khác thừa hưởng mà không bị hạn chế. Người thừa kế có quyền nhận di sản thừa kế là các giá trị vật chất, giá trị tinh thần và các quyền, nghĩa vụ liên quan khác của người có di sản để lại. Chế định về quyền thừa kế quy định về quyền tự định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời người nhận di sản cũng có quyền nhận di sản theo di chúc hoặc pháp luật. Hơn nữa, quyền sở hữu là một quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, dành cho họ quyền định đoạt tối cao.

Như vậy, quyền sở hữu và quyền thừa kế tài sản có mối quan hệ khăng khít và ngang nhau. Thực tế tài sản của mỗi con người có thể tồn tại lâu hơn một đời người, do đó cần có một cơ chế pháp lý điều chỉnh sự dịch chuyển các quyền tài sản của người chết sang cho người còn sống, việc chuyển dịch đó không chỉ đơn thuần là kế thừa các quyền mà còn cả nghĩa vụ của người đã khuất. Quyền thừa kế bản chất đó là một quyền dân sự của công dân, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959; 1980; 1992 và tại Điều 32 Hiến 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” [22, Điều 32]. Việc bảo hộ này cũng được cụ thể hóa trong Luật Đất đai; Bộ luật Dân sự và một số văn bản pháp luật khác.

Bộ luật dân sự năm 2015 đã đưa ra khái niệm về quyền thừa kế với nội dung hoàn toàn mới, theo hướng nhấn mạnh quyền tự định đoạt của người lập di chúc có quyền chỉ định một tổ chức hưởng di sản của mình sau khi chết. Cụ thể, Điều 609 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc” [26, Điều 609]. Trên cơ sở các quan điểm, lý luận nêu trên tác giả cũng đưa ra quan điểm của mình về quyền thừa kế như sau: “Quyền thừa kế là quyền tự quyết của người nhận di sản.

Quyền thừa kế chỉ phát sinh khi người có di sản chết, những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của người để lại di sản có thể nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản thừa kế của người chết”. Pháp luật hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở 1. Thừa kế quyền sử dụng đất ở và nhà ở theo di chúc Di chúc là việc thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc, do vậy pháp luật luôn tôn trọng và bảo hộ ý chí của người lập di chúc. Đối với di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở, người lập di chúc dựa vào tâm nguyện, tình cảm của mình với người khác mà định đoạt cho họ được hưởng quyền sử dụng đất ở và nhà ở.

Theo Điều 624 BLDS năm 2015 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc là cơ sở, căn cứ trong việc phân chia di sản của người chết để lại, việc chia thừa kế theo di chúc tùy thuộc vào việc người chết có để lại di chúc hay không. Tại Chương XXII - BLDS năm 2015 quy định một số vấn đề pháp lý về thừa kế theo di chúc, theo đó: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, về chủ thể lập di chúc. Theo quy định tại Điều 625 BLDS năm 2015: Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc [26, Điều 625].

Như vậy, người lập di chúc đối với di sản là quyền sử dụng đất ở và nhà ở, là người mà có quyền sử dụng, định đoạt khối tài sản quyền sử dụng đất ở, nhà ở của mình cho những người khác còn sống sau khi chết. Người lập di chúc ở đây chỉ có thể là cá nhân mà không thể là cơ quan, tổ chức, còn tài sản của cơ quan, tổ chức là tài sản chung về chủ thể có quyền và được xử lý theo quy định pháp luật về doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Thừa Kế Quyền Sử Dụng Đất và Nhà Ở Tại Điện Biên Phủ: Thực Tiễn và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại khu vực Điện Biên Phủ. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện quy trình thừa kế, giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc quản lý tài sản thừa kế.

Đặc biệt, tài liệu mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách cung cấp thông tin chi tiết về các quy định pháp luật liên quan, cũng như những khó khăn mà người dân thường gặp phải. Để mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều hơn về vấn đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Nam, nơi cung cấp cái nhìn về các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls giải quyết tranh chấp dân sự về quyền tác giả tại tòa án cũng có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền sở hữu và bảo vệ tài sản. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.