Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Đƣờng lối, chính sách của Đảng về giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và đƣợc để thừa kế quyền sử dụng đất Nhận thức rõ việc duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sẽ cản trở sự phát triển của đất nước khi cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: Giai đoạn thống nhất đất nước, xây dựng xã hội ấm no, hạnh phúc; Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường. Công cuộc đổi mới đất nước được tiến hành với khâu đột phá là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với ruộng đất.
Hàng loạt đường lối, chính sách của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp nói chung và xác lập vai trò của hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp nói riêng đã lần lượt được ra đời với việc thực hiện giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; đồng thời mở rộng các quyền năng của người sử dụng đất (trong đó có quyền thừa kế quyền sử dụng đất). Quan điểm xác lập và mở rộng các quyền của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai (trong đó có quyền thừa kế quyền sử dụng đất) được ghi nhận trong các văn kiện sau đây của Đảng: - Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/10/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "cải tiến công tác khoán, mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp", trong đó xác định: 9 "…tổ chức tốt việc giao diện tích đất cho đội sản xuất, nhóm người lao động… khi diện tích giao khoán hợp lý thì có thể ổn định để xã viên yên tâm thâm canh trên diện tích đất đó". Chính sách khoán và giao đất sử dụng ổn định đã bước đầu động viên nông dân hăng hái lao động, sản xuất và "bước đầu quá trình xác lập địa vị làm chủ ruộng đất thực sự của người lao động"; - Tiếp đó, ngày 05/04/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, đã khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và giao khoán ruộng đất ổn định, lâu dài cho hộ gia đình nông dân; - Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) đã ghi nhận: "Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất được giao cho nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụng ruộng đất" [8, tr.
Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại nghị quyết các Hội nghị Trung ương tiếp theo, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VII tháng 12 năm 1991) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6/1992): "Ruộng đất được trao cho nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng pháp luật việc thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất" [8, tr. 68]; - Vấn đề sử dụng đất ổn định lâu dài nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng của hộ gia đình, cá nhân còn được ghi nhận trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận.
Luật pháp quy định cụ thể việc thừa kế và chuyển quyền sử dụng ruộng đất" [8, tr.343]; - Ngày 12/03/2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã 10 chỉ rõ: "Người được giao quyền sử dụng đối với đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, được thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật về thừa kế như các tài sản khác" [7, tr. Như vậy, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về giao ruộng đất sử dụng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân và trao cho họ quyền thừa kế quyền sử dụng đất được ghi nhận trong các văn kiện trên đây là những định hướng rất quan trọng để Nhà nước thể chế hóa thành các quy định của pháp luật. Các quy định này khi đi vào cuộc sống đã làm cho người nông dân yên tâm gắn bó lâu dài với đất đai và tạo ra động lực mới trong sản xuất nông nghiệp. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Các hình thức sở hữu khác về đất đai không được pháp luật thừa nhận. Chính sự đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã chi phối mạnh mẽ đến quyền thừa kế quyền sử dụng đất của người sử dụng. Sự chi phối này thể hiện: Thứ nhất, người sử dụng đất muốn để lại thừa kế quyền sử dụng đất thì trước tiên họ phải có được quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do đất đai không thuộc sở hữu của người sử dụng đất mà thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; nên việc họ có được quyền sử dụng đất hay không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước đại diện chủ sở hữu; Ở khía cạnh khác, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Điều 5 Luật Đất đai năm 2003); song Nhà nước lại không trực tiếp chiếm hữu và sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài hoặc công nhận quyền sử dụng đất đối với đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.
Đi liền với đó, người sử dụng đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 11 (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đối với diện tích đất được giao, cho thuê… Như vậy, người sử dụng đất chỉ có thể để thừa kế quyền sử dụng đất khi chết chứ họ không được để thừa kế đất đai. Trong trường hợp người sử dụng đất để thừa kế đất đai; họ đã vi phạm quyền sở hữu toàn dân về đất đai được pháp luật ghi nhận và bảo hộ (xâm phạm quy định của Điều 17 Hiến pháp năm 1992; xâm phạm quy định của Điều 5 Luật Đất đai năm 2003). Thứ hai, do đất đai là tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; nên khi người sử dụng đất thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất, họ không chỉ tuân thủ các quy định chung về thừa kế tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2005 mà còn phải thỏa mãn các điều kiện về chuyển quyền sử dụng đất nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng do pháp luật đất đai quy định; khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2003 quy định cụ thể : 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119; điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật này khi có các điều kiện sau đây: a.
Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; b. Đất không có tranh chấp; c. Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; d. Trong thời hạn sử dụng đất [17].
Tương tự người thuộc đối tượng thừa kế quyền sử dụng đất không những phải thỏa mãn các điều kiện về thừa kế tài sản do Bộ luật Dân sự năm 12 2005 quy định mà còn đáp ứng được các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất của pháp luật đất đai; theo đó: "Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó" (khoản 5 Điều 113 Luật Đất đai năm 2003). Nhận thức về quyền sử dụng đất trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng Tài sản do con người tạo ra được chia thành hai loại: tài sản vật chất và tài sản phi vật chất. Tài sản vật chất là tài sản tồn tại trong thế giới khách quan dưới dạng một hình thái vật chất nhất định và con người bằng các giác quan của mình có thể nhận biết được. Ví dụ: nhà cửa, ô tô, tiền, vàng, nhà máy v.
Tài sản phi vật chất là tài sản tồn tại trong thế giới khách quan không dưới dạng một hình thái vật chất. Con người nhận biết được nó thông qua tri thức, sự cảm nhận của trí óc, suy nghĩ. Tài sản phi vật chất bao gồm uy tín, bí quyết, nhãn hiệu, thương hiệu, phát minh, sáng chế, quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, mối quan hệ quen biết, kinh nghiệm, kỹ năng v. Đặc biệt khi nền kinh tế tri thức ra đời, loài người ngày càng nhận thức sâu sắc được giá trị và tầm quan trọng của loại tài sản này; Trong lĩnh vực đất đai, đất đai được xác định là tài sản đặc biệt; bởi lẽ nó không do con người làm ra mà do tự nhiên tạo ra.
Đất đai là tặng vật của thiên nhiên ban tặng cho con người. Xét trên phương diện đó, đất đai không thuộc về của riêng bất cứ ai mà thuộc về của chung cộng đồng. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng con người đã tác động, đầu tư thông qua các hình thức như xác định mục đích sử dụng cụ thể, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bồi bổ, cải tạo … đã biến đất đai từ dạng tài nguyên trở thành tài sản.