Tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện tỉnh Bắc Giang

Tài liệu phân tích sâu thực trạng tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện tỉnh Bắc Giang, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Khoa học thư viện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2011

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của hệ thống thư viện huyện tỉnh Bắc Giang

Hệ thống thư viện công cộng cấp huyện tại tỉnh Bắc Giang đóng một vai trò thiết yếu trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Đây không chỉ là nơi lưu giữ di sản thư tịch mà còn là một thiết chế văn hóa - giáo dục quan trọng, góp phần trực tiếp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Đặc biệt, tại một tỉnh miền núi như Bắc Giang, với địa hình phức tạp và sự đa dạng về dân tộc, mạng lưới thư viện cấp huyện trở thành cầu nối tri thức, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền. Pháp lệnh Thư viện năm 2001 đã khẳng định rõ chức năng: “...truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài...”. Nhiệm vụ của thư viện huyện Bắc Giang không chỉ dừng lại ở việc phục vụ bạn đọc tại chỗ mà còn là trung tâm chỉ đạo nghiệp vụ, luân chuyển sách báo xuống các thư viện cơ sở, góp phần xây dựng văn hóa đọc trong cộng đồng. Hoạt động này càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới Bắc Giang, nơi tri thức về khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất là chìa khóa để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống người dân. Một hệ thống thư viện công cộng mạnh mẽ, hoạt động hiệu quả sẽ là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời giữ vững an ninh quốc phòng và bản sắc văn hóa dân tộc.

1.1. Chức năng cốt lõi trong chính sách phát triển văn hóa

Các thư viện cấp huyện là mắt xích quan trọng, trực tiếp triển khai các chính sách phát triển văn hóa của tỉnh. Chúng thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nâng cao trình độ chính trị và văn hóa cho người dân. Thông qua các nguồn lực thông tin đa dạng, thư viện giúp người dân tiếp cận tri thức, làm theo sách báo để cải thiện sản xuất, chăm sóc sức khỏe, bài trừ hủ tục lạc hậu. Đây là công cụ hữu hiệu để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

1.2. Nhiệm vụ phát triển văn hóa đọc tại cơ sở

Nhiệm vụ trọng tâm của thư viện huyện là xây dựng và phát triển phong trào đọc sách tại địa phương. Hoạt động này bao gồm việc tổ chức các sự kiện như giới thiệu sách, nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu sách... để thu hút bạn đọc. Đồng thời, thư viện huyện còn có trách nhiệm hướng dẫn nghiệp vụ, luân chuyển sách báo xuống các thư viện, tủ sách xã, phường, thị trấn. Việc này đảm bảo người dân ở các vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, có cơ hội tiếp cận tri thức, góp phần nâng cao dân trí một cách bền vững.

II. 4 Thách thức lớn kìm hãm hệ thống thư viện huyện Bắc Giang

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện huyện Bắc Giang trong giai đoạn 2006-2010 còn tồn tại nhiều bất cập nghiêm trọng cần được khắc phục. Luận văn của tác giả Vũ Trí Tĩnh (2011) đã chỉ ra một thực trạng đáng lo ngại: công tác quản lý còn rời rạc, thiếu đồng bộ và chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ chính quyền địa phương. Nhiều nơi vẫn ưu tiên các hoạt động bề nổi như văn nghệ, thể thao mà xem nhẹ vai trò của thư viện. Nhận thức hạn chế của một bộ phận lãnh đạo và cả người làm thư viện đã dẫn đến sự thiếu đầu tư về mọi mặt, từ vốn tài liệu, trang thiết bị đến kinh phí hoạt động. Hiệu quả hoạt động của các thư viện vì thế chưa cao, số lượng bạn đọc đến thư viện còn rất hạn chế. Các thách thức này tạo thành một rào cản lớn, ngăn cản sự phát triển thư viện theo kịp yêu cầu của xã hội. Việc phân tích sâu các vấn đề này là bước đi cần thiết để tìm ra giải pháp phù hợp, giúp hệ thống thư viện công cộng của tỉnh thực sự trở thành trung tâm tri thức phục vụ cộng đồng.

2.1. Bất cập trong cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ thư viện

Cơ cấu tổ chức của các thư viện huyện không đồng nhất. Theo khảo sát, 9/10 thư viện trực thuộc Trung tâm Văn hóa - Thông tin, dẫn đến hoạt động thư viện thường bị xếp sau các nhiệm vụ khác. Về nhân sự, đội ngũ cán bộ thư viện vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chuyên môn. Có tới 8/10 thư viện chỉ có duy nhất 01 cán bộ, kiêm nhiệm nhiều việc khác. Trong tổng số 12 cán bộ toàn mạng lưới, chỉ có 3 người tốt nghiệp đại học đúng chuyên ngành. Trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế, gây khó khăn cho việc tiếp cận các phương pháp quản lý hiện đại và chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi số thư viện.

2.2. Hạn chế về cơ sở vật chất thư viện và ngân sách hoạt động

Cơ sở vật chất thư viện là một trong những điểm yếu lớn nhất. Có đến 7/10 thư viện chưa có trụ sở độc lập, phải hoạt động ghép trong không gian của Hội trường UBND hoặc các cơ quan khác. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và không gian yên tĩnh cần có. Trang thiết bị như giá sách, bàn ghế, máy tính còn thiếu thốn. Về ngân sách cho thư viện, nguồn kinh phí hoạt động rất bấp bênh và thấp. Nhiều thư viện không được cấp kinh phí bổ sung sách từ ngân sách huyện trong nhiều năm, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu của tỉnh.

2.3. Nguồn lực thông tin nghèo nàn và hoạt động nghiệp vụ hạn chế

Chất lượng vốn tài liệu là yếu tố quyết định sức hấp dẫn của thư viện. Tuy nhiên, nguồn lực thông tin tại các thư viện huyện còn nghèo nàn, lạc hậu. Việc bổ sung sách không thường xuyên, chủ yếu là sách từ các chương trình mục tiêu, chưa thực sự bám sát nhu cầu đa dạng của người đọc tại địa phương. Các hoạt động nghiệp vụ như xử lý tài liệu, xây dựng bộ máy tra cứu còn thủ công. Công tác tuyên truyền, giới thiệu sách và các hình thức phục vụ ngoài thư viện như luân chuyển sách xuống cơ sở chưa được thực hiện đều đặn và rộng khắp.

III. 5 Bí quyết tái cấu trúc hệ thống thư viện huyện Bắc Giang

Để giải quyết những tồn tại sâu sắc về mặt tổ chức, cần có một nhóm giải pháp đồng bộ và quyết liệt nhằm tái cấu trúc hệ thống thư viện huyện Bắc Giang. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là hoàn thiện bộ máy, nâng cao năng lực con người và đảm bảo các điều kiện vật chất tối thiểu cho hoạt động. Trước hết, cần thống nhất mô hình tổ chức, đảm bảo tính độc lập tương đối cho thư viện để phát huy vai trò chuyên môn. Theo Quyết định số 49/2006/QĐ-BVHTT, thư viện cấp huyện có thể là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND, có tư cách pháp nhân riêng. Đây là mô hình lý tưởng cần hướng tới. Song song đó, việc nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý nhà nước về vai trò của thư viện là yếu tố tiên quyết. Khi lãnh đạo địa phương hiểu đúng và quan tâm, các vấn đề về đầu tư và chính sách sẽ được giải quyết. Cuối cùng, một chính sách phát triển văn hóa toàn diện cần bao gồm các quy định cụ thể về chế độ cho người làm thư viện, tạo động lực để họ gắn bó và cống hiến. Việc tái cấu trúc này không chỉ là sắp xếp lại bộ máy mà là tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển thư viện trong dài hạn.

3.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức xác định rõ vai trò thư viện

Cần quy hoạch lại mạng lưới, tiến tới mô hình thư viện huyện là đơn vị sự nghiệp độc lập hoặc có bộ phận chuyên trách rõ ràng trong Trung tâm Văn hóa. Việc này giúp thư viện chủ động xây dựng kế hoạch, ngân sách và triển khai các hoạt động chuyên môn mà không bị chi phối bởi các nhiệm vụ khác. Cần có quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Thư viện tỉnh và các thư viện huyện để đảm bảo sự chỉ đạo nghiệp vụ thống nhất và hiệu quả.

3.2. Phương pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện

Cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lại đội ngũ cán bộ thư viện hiện có, cập nhật kiến thức về nghiệp vụ, công nghệ thông tin và kỹ năng giao tiếp. Ưu tiên tuyển dụng nhân sự được đào tạo đúng chuyên ngành. Tỉnh cần có chính sách thu hút, đãi ngộ hợp lý để giữ chân cán bộ giỏi, đặc biệt tại các huyện vùng sâu, vùng xa. Tổ chức các lớp tập huấn thường xuyên về kỹ năng thu hút bạn đọc và tổ chức sự kiện văn hóa đọc.

3.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và ngân sách cho thư viện

Chính quyền địa phương cần thực hiện nghiêm túc Nghị định số 72/2002/NĐ-CP, ưu tiên giao đất và cấp kinh phí xây dựng trụ sở độc lập cho các thư viện tại vị trí trung tâm, thuận lợi. Cần xây dựng định mức ngân sách cho thư viện hàng năm, đảm bảo kinh phí bổ sung sách báo, mua sắm trang thiết bị và chi cho các hoạt động nghiệp vụ. Khuyến khích xã hội hóa thư viện để huy động thêm nguồn lực từ cộng đồng và doanh nghiệp.

IV. Cách nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện huyện Bắc Giang

Bên cạnh việc củng cố tổ chức, việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động là yếu tố sống còn để thư viện huyện Bắc Giang khẳng định vị trí của mình. Các giải pháp hoạt động cần tập trung vào việc làm phong phú nguồn lực thông tin, hiện đại hóa quy trình nghiệp vụ và đa dạng hóa phương thức phục vụ. Mục tiêu cuối cùng là biến thư viện thành một không gian văn hóa mở, thân thiện và hữu ích, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện trong tư duy làm thư viện, chuyển từ bị động chờ bạn đọc đến chủ động tìm kiếm và tạo ra nhu cầu đọc. Công tác tuyên truyền, giới thiệu sách phải được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức sáng tạo. Các dịch vụ phải được thiết kế linh hoạt, không chỉ phục vụ tại chỗ mà còn mở rộng ra cộng đồng thông qua các điểm luân chuyển, thư viện lưu động. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin là xu thế tất yếu, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới, phù hợp với thời đại số. Đây là con đường để thư viện thực sự trở thành người bạn đồng hành trong học tập suốt đời của mỗi người dân.

4.1. Đa dạng hóa nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu bạn đọc

Công tác bổ sung tài liệu cần được thực hiện thường xuyên, có chọn lọc, bám sát nhiệm vụ chính trị - xã hội và nhu cầu thực tế của các nhóm bạn đọc khác nhau tại địa phương. Ngoài sách in, cần phát triển các dạng tài liệu khác như sách điện tử, tài liệu nghe nhìn. Chú trọng bổ sung các tài liệu về khoa học ứng dụng, phát triển kinh tế nông thôn, khởi nghiệp, kỹ năng sống... để phục vụ thiết thực cho chương trình xây dựng nông thôn mới Bắc Giang.

4.2. Hướng dẫn ứng dụng công nghệ tiến tới thư viện điện tử

Cần từng bước đầu tư máy tính, kết nối internet cho tất cả các thư viện huyện. Triển khai các phần mềm quản lý thư viện tích hợp để tự động hóa các khâu nghiệp vụ từ biên mục, quản lý bạn đọc đến lưu thông. Bắt đầu quá trình số hóa tài liệu địa chí, tài liệu quý hiếm để bảo tồn và phổ biến rộng rãi. Xây dựng website hoặc trang thông tin đơn giản để giới thiệu sách mới, thông báo hoạt động, tạo tiền đề cho việc xây dựng thư viện điện tử trong tương lai.

4.3. Đẩy mạnh công tác luân chuyển sách và xã hội hóa thư viện

Tăng cường tần suất và phạm vi luân chuyển sách xuống các thư viện cơ sở, điểm bưu điện văn hóa xã, trường học. Xây dựng các mô hình thư viện lưu động để đưa sách đến những vùng khó khăn nhất. Đồng thời, đẩy mạnh công tác xã hội hóa thư viện bằng cách kêu gọi các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp ủng hộ sách, kinh phí, trang thiết bị; thành lập các câu lạc bộ bạn đọc, các nhóm tình nguyện viên hỗ trợ hoạt động thư viện.

V. Lộ trình chuyển đổi số cho thư viện huyện Bắc Giang

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số thư viện không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc để tồn tại và phát triển. Đối với thư viện huyện Bắc Giang, lộ trình này cần được thực hiện theo các bước đi phù hợp với điều kiện thực tế. Giai đoạn đầu (1-3 năm) cần tập trung vào việc xây dựng hạ tầng cơ bản và nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ. Mục tiêu là 100% thư viện có máy tính kết nối internet và cán bộ sử dụng thành thạo tin học văn phòng, phần mềm quản lý thư viện. Giai đoạn tiếp theo (3-5 năm) sẽ tập trung vào việc số hóa tài liệu và xây dựng các cơ sở dữ liệu ban đầu. Ưu tiên số hóa các tài liệu có giá trị cao về lịch sử, văn hóa địa phương (tài liệu địa chí). Đồng thời, xây dựng cổng thông tin điện tử chung cho toàn mạng lưới, cung cấp mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) và các dịch vụ thông tin cơ bản. Giai đoạn dài hạn (sau 5 năm) là phát triển thư viện điện tử hoàn chỉnh, liên kết dữ liệu với Thư viện tỉnh và Thư viện Quốc gia. Lộ trình này đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về công nghệ, chính sách và con người, nhưng sẽ mở ra một chương mới cho sự phát triển thư viện, giúp tri thức thực sự đến với mọi người, mọi lúc, mọi nơi.

5.1. Xây dựng hạ tầng công nghệ và đào tạo nhân lực số

Bước đi đầu tiên và quan trọng nhất là trang bị hạ tầng công nghệ thông tin. Mỗi thư viện cần có ít nhất một bộ máy tính cấu hình tốt, máy in và đường truyền internet ổn định. Song song, phải tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ thư viện về quản trị mạng, sử dụng phần mềm thư viện, kỹ năng tìm kiếm thông tin số và các tiêu chuẩn biên mục điện tử như MARC21. Đây là nền tảng không thể thiếu cho mọi hoạt động chuyển đổi số về sau.

5.2. Kế hoạch số hóa tài liệu và xây dựng nguồn lực thông tin số

Cần xây dựng một kế hoạch số hóa tài liệu bài bản, xác định rõ đối tượng ưu tiên. Các tài liệu địa chí, sách quý hiếm, công trình nghiên cứu về Bắc Giang cần được ưu tiên số hóa trước để bảo tồn và quảng bá. Ngoài ra, cần chủ động xây dựng bộ sưu tập nguồn lực thông tin số bằng cách mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu trực tuyến, liên kết với các kho học liệu mở, tạo ra một môi trường thông tin phong phú vượt ra ngoài khuôn khổ tài liệu giấy truyền thống.

VI. Tương lai thư viện huyện Hướng tới văn hóa đọc bền vững

Việc nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của hệ thống thư viện huyện Bắc Giang là một nhiệm vụ chiến lược, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển toàn diện của tỉnh. Một mạng lưới thư viện mạnh không chỉ cung cấp tri thức mà còn là hạt nhân kiến tạo không gian văn hóa, thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tương lai của thư viện huyện Bắc Giang phụ thuộc vào sự kết hợp của ba yếu tố: sự quan tâm thực chất từ các cấp chính quyền, sự nỗ lực đổi mới của chính những người làm công tác thư viện và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Khi các giải pháp về tổ chức, hoạt động và chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, các thư viện sẽ dần lột xác, trở thành những trung tâm thông tin - văn hóa hiện đại, hấp dẫn. Từ đó, văn hóa đọc sẽ lan tỏa mạnh mẽ, thấm sâu vào đời sống của người dân, góp phần tạo ra một thế hệ công dân có tri thức, năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hội nhập mới. Đây là một hành trình dài, nhưng với quyết tâm và chiến lược đúng đắn, mục tiêu xây dựng một nền tảng văn hóa đọc bền vững là hoàn toàn khả thi.

6.1. Sự cần thiết của chính sách phát triển văn hóa đồng bộ

Để các giải pháp phát huy hiệu quả, cần có một chính sách phát triển văn hóa đồng bộ từ cấp tỉnh đến huyện, trong đó xác định rõ vị trí, vai trò và cơ chế đầu tư cho hệ thống thư viện công cộng. Chính sách này phải mang tính dài hạn, đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh tình trạng đầu tư manh mún, phong trào. Sự chỉ đạo quyết liệt của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng UBND các cấp là yếu tố quyết định thành công.

6.2. Phát huy vai trò của xã hội hóa trong phát triển thư viện

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng nguồn lực từ xã hội là vô cùng quan trọng. Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động xã hội hóa thư viện. Các hình thức có thể là tài trợ kinh phí, tặng sách, xây dựng tủ sách, tổ chức các cuộc thi đọc sách... Sự chung tay của toàn xã hội sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp phát triển thư viện nhanh và bền vững hơn, từ đó nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Khái quát chung về mạng lưới thư viện cấp huyện tỉnh Bắc Giang. Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện tỉnh Bắc Giang. Giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện tỉnh Bắc Giang.

KHÁI QUÁT VỀ MẠNG LƯỚI THƯ VIỆN CẤP HUYỆN TỈNH BẮC GIANG 1. Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện 1. Khái niệm mạng lưới thư viện Khái niệm mạng lưới: Mạng lưới là từ ghép, gồm từ mạng và từ lưới. Hai từ đều có nghĩa gần giống nhau, theo từ điển tiếng Việt thì mạng lưới là hệ thống đường, mạch… có cùng chức năng (mạng lưới thông tin, mạng lưới giao thông) là hệ thống tổ chức cá nhân có cùng chức năng (mạng lưới điệp viên).

Như vậy, mạng lưới cũng có nghĩa là một hệ thống tổ chức, tạo sự liên kết của các cá nhân, đơn vị có cùng chức năng trên một phạm vi rộng. Vậy mạng lưới thư viện là gì? có một vài định nghĩa mạng lưới thư viện như sau: Là hệ thống tổ chức thư viện có cùng chức năng, tính chất trong một địa phương, một vùng, miền, hoặc toàn quốc. Ví dụ: mạng lưới thư viện huyện X của tỉnh Y… Thư viện cấp huyện là thư viện của các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, hoặc thành phố trực thuộc trung ương. Các thư viện này vừa hoạt động độc lập, vừa có sự gắn kết với nhau thông qua mối quan hệ với thư viện tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, về việc cung cấp sách, hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức những hoạt động chung như: thi đọc sách, giới thiệu sách… và giao ước thi đua… Tóm lại, mạng lưới thư viện cấp huyện là hệ thống tổ chức gắn kết các thư viện với thư viện trung tâm là thư viện tỉnh, hoặc thư viện thành phố trực thuộc trung ương.

Khái niệm về tổ chức mạng lưới thư viện cấp huyện Tổ chức, theo từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2005: “Hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng lợi ích của các thành viên; cùng nhau hành động vì mục tiêu chung…” [25, tr. Theo từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1991, do Văn Tân chủ biên thì tổ chức là: “Sắp xếp các bộ phận cho ăn nhập với nhau để toàn bộ là một cơ cấu nhất định” [16, tr. 821] “Một tổ chức ít khi mang trong nó mục tiêu tự thân. Nó chỉ là một công cụ được tạo dựng nhằm thực hiện các mục đích khác - điều đó thể hiện trong chính từ tổ chức (organisation) -bắt nguồn từ chữ Hy Lạp organon tức là công cụ hoặc dụng cụ” [1, tr.

Như vậy, tổ chức là sự tập hợp lại của các yếu tố, cùng nhau thực hiện một mục đích, hành động vì mục tiêu chung. Tổ chức mạng lưới thư viện cấp huyện là tổ chức các thư viện huyện hoạt động theo một hệ thống nhất định, nhằm thực hiện các chức năng chung của thư viện: thu thập, xử lý, bảo quản, tìm và phổ biến thông tin cho người dùng tin trên địa bàn huyện. Khái niệm về hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện Hoạt động, theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình” [25, tr. Theo từ điển tiếng Việt của Văn Tân, thì hoạt động là: “Toàn thể những việc làm của một tổ chức, một cá nhân, có liên quan với nhau để quy vào một mục đích chung, thường trong một lĩnh vực xã hội” [16, tr.

14 Như vậy, hoạt động là tổng hợp các hành động con người, tác động vào một đối tượng nhất định, nhằm đạt mục đích nhất định và có ý nghĩa xã hội nhất định. Hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện được hiểu là hoạt động của từng thư viện như những mắt xích trong một mạng lưới thống nhất. Mối quan hệ giữa tổ chức và hoạt động Mọi sự vật muốn tồn tại và hoạt động được khi tổ chức nội tại của nó bền vững và thích ứng được với môi trường. Thư viện chỉ tồn tại, hoạt động và phát triển được khi nó được đảm bảo các yếu tố cấu thành, như: vốn tài liệu, cán bộ thư viện, người sử dụng -bạn đọc, cơ sở vật chất - kỹ thuật.

Do đó, 4 yếu tố nói trên là điều kiện để bất kỳ thư viện nào tồn tại và phát triển. Tổ chức và hoạt động là hai vấn đề có mối quan hệ biện chứng, tổ chức hợp lý là điều kiện cho hoạt động hiệu quả, ngược lại, quá trình hoạt động sẽ giúp cho việc kiểm chứng tổ chức có thích hợp hay không. Tổ chức ở đây được nhìn nhận trên quan điểm hệ thống, muốn hệ thống hoạt động có hiệu quả thì nhất thiết tổ chức phải mang tính chất thích ứng, phải phù hợp với những mục tiêu và hoạt động chủ yếu. Đặc điểm mạng lưới thư viện cấp huyện tỉnh Bắc Giang 1.

Vài nét về tình hình kinh tế văn hóa, xã hội tỉnh Bắc Giang 1. Vị trí địa lý- điều kiện tự nhiên Bắc Giang là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, giáp với nhiều tỉnh thành, phía Bắc giáp Lạng Sơn, phía Đông giáp Quảng Ninh, phía Tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía Nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương. Tỉnh lỵ: thành phố Bắc Giang cách Hà Nội 51 km. 15 Bắc Giang cách không xa các khu công nghiệp và đô thị của vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía bắc Hà Nội- Quảng Ninh- Hải Phòng, nằm trong hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn- Hà Nội; và có thể khai thác hiệu quả hành lang kinh tế Côn Minh (Trung Quốc) - Lào Cai- Hà Nội.

Tỉnh Bắc Giang có diện tích 3.822,7 km2, dân số khoảng 1,6 triệu người gồm 26 dân tộc, trong đó các dân tộc chính là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa, Dao (dân tộc Kinh chiếm 88,1% dân số). Theo số liệu của niên giám thống kê năm 2003 thì Bắc Giang xếp thứ 17 về dân số và 34 về diện tích trong 61 tỉnh thành của cả nước. Về khí hậu Bắc Giang, nhiệt độ trung bình năm là 22-230C, lưu lượng mưa hàng năm từ 1500 đến 1700 mm, độ ẩm dao động lớn từ 73% đến 87%. Toàn tỉnh Bắc Giang có khoảng 382.000 ha đất, trong đó đất đang sử dụng chiếm 77% tổng diện tích.

Về đất nông nghiệp, Bắc Giang có 123 nghìn ha đất phục vụ thâm canh lúa đảm bảo an ninh lương thực đồng thời cũng rất thích hợp để phát triển rau, củ, quả, phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị cao và nuôi trồng thủy sản. Về đất lâm nghiệp, Bắc Giang có 121 nghìn ha đất có rừng và 55 nghìn ha đất đồi núi chưa sử dụng. Bắc Giang là một tỉnh có tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư liên doanh, liên kết trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và phát triển ngành chế biến lâm sản. Nguồn tài nguyên khoáng sản ở Bắc Giang chủ yếu là than với các mỏ như: Bố Hạ, Thanh Sơn.

trữ lượng thấp, ước tính hàng ngàn tấn có chất lượng tốt. Nguồn nhân lực dồi dào cũng là một trong những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Bắc Giang. Dân số của tỉnh hiện nay là 1,6 triệu người, trong đó có 95 vạn lao động, dự tính đến năm 2016, lực lượng lao động được bổ sung thêm khoảng 20 vạn, đủ khả năng cung cấp nhân lực cho các cơ sở sản xuất 16 công nghiệp ở địa phương. Để khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động tại chỗ, tỉnh có chính sách hỗ trợ kinh phí để các nhà đầu tư đào tạo nghề cho người lao động.

Hiện tại, tỉnh có 24 cơ sở đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu đa dạng về đào tạo nghề của nhiều ngành, nhiều nghề và nhiều doanh nghiệp. Theo quy hoạch đến năm 2006, Bắc Giang sẽ có 45 cơ sở đào tạo với chỉ tiêu tuyển sinh mới hằng năm trên 16 ngàn người. Ngoài ra, mỗi năm Bắc Giang có trên 5000 học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học. Số sinh viên này khi tốt nghiệp sẽ là lực lượng nòng cốt bổ sung cho đội ngũ lao động trình độ cao của tỉnh [3].

Hệ thống giao thông được phân bố đều và thuận tiện bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy, trong đó bao gồm tuyến Quốc lộ 1A cũ và 1A mới, tuyến đường sắt từ Hà Nội qua Bắc Giang đi Lạng Sơn, Trung Quốc, Thái Nguyên và Quảng Ninh là quan trọng nhất. Nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 3 con sông lớn là: sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam, ba con sông này đều đổ về Phả Lại, gặp sông Đuống rồi chia thành hai nhánh đổ về Hải Phòng và Thái Bình. Những con sông này tạo thành mạng lưới giao thông đường thủy thuận tiện và cũng là nguồn cung cấp tài nguyên nước quan trọng cho sinh hoạt và sản xuất. Do có vị trí liên thông với các tỉnh ở vùng Đông Bắc và với hệ thống núi non sông ngòi chằng chịt như trên, nên xưa kia Bắc Giang được gọi là “Phên dậu phía Bắc” của Kinh thành Thăng Long và ngày nay Bắc Giang vẫn là địa bàn quân sự trọng yếu để bảo vệ Tổ quốc.

Tổ chức hành chính tỉnh Bắc Giang bao gồm 1 thành phố (Tháng 6/2005 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập thành phố Bắc Giang trên cơ sở nâng cấp thị xã Bắc Giang) và 9 huyện: Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Lạng Giang, Yên Thế, Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hòa. Tỉnh Bắc 17 Giang có 230 xã, phường, thị trấn (tháng 12/2010) trong đó 169 xã thuộc khu vực miền núi và vùng cao (theo quy định của nhà nước). Nhìn chung về điều kiện tự nhiên, Bắc Giang có nhiều mặt thuận lợi cho sản xuất nông lâm, giao thông, thương mại và phát triển công nghiệp. Đây là cơ sở để Bắc Giang vươn lên trong quá trình CNH- HĐH, trở thành một tỉnh công nông nghiệp giầu mạnh.

Đặc điểm kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Giang Đến năm 2010, tỉnh Bắc Giang cơ bản vẫn là một tỉnh thuần nông nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của tỉnh Bắc Giang 5 năm trở lại đây tăng bình quân 9%/năm, trong đó: công nghiệp xây dựng tăng 17,7%, nông nghiệp tăng 2,6%, dịch vụ tăng 9,9 %. Tỷ trọng công nghiệp xây dựng trong cơ cấu kinh tế đạt 33,2%, tăng 9,9%, nông nghiệp còn 32,7%, giảm 9,4% so với năm 2005, dịch vụ 34,1%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 650USD [2, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ