Chương 1: Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh và thủ tục xử lý hành vi vi phạm cạnh tranh không lành mạnh Chương 2: Một số bất cập trong thủ tục xử lý vi phạm cạnh tranh không lành mạnh Chương 3: Thủ tục xử lý vi phạm cạnh tranh không lành mạnh tại một số nước và đề xuất cho Việt Nam. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ THỦ TỤC XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1.1 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh 1.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh được biết đến là một động lực cần thiết để các doanh nghiệp có thể thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và mang lại nhiều lợi ích. Khi giữa các doanh nghiệp tồn tại sự cạnh tranh với nhau, chính các doanh nghiệp đó sẽ nhận thức và thực hiện việc đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ để sản xuất, từ đó kéo theo sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như đem lại lợi ích cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, để nâng cao lợi nhuận và tạo ra vị thế trong thị trường, nhiều doanh nghiệp sẽ bất chấp thực hiện các hành vi đi ngược với cạnh tranh lành mạnh, gây ra nhiều hệ quả tiêu cực cho thị trường cạnh tranh hoặc một hay một nhóm doanh nghiệp.
Vì vậy, Nhà nước cần can thiệp để đảm bảo tính lành mạnh của thị trường cạnh tranh. Hành vi phản cạnh tranh được chia làm hai nhóm chính: (i) Nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh; (ii) Nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong phạm vi của Luận văn, tác giả chỉ tập trung vào nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Theo quan điểm chung của quốc tế, hiện nay đã có những thống nhất chung cụ thể về những yếu tố để xác định một hành vi bị xem là cạnh tranh không lành mạnh.
Cụ thể, khi bàn về khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trước hết phải đề cập đến Công ước Paris 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đây là văn kiện quốc tế đầu tiên quy định về cạnh tranh không lành mạnh. Theo đó, Công ước định nghĩa như sau: “Bất kỳ hành động nào đi ngược với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là cạnh tranh không lành mạnh.1 Như vậy, tiêu chí để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Công ước Paris đó là có hành vi trái với đạo đức, chuẩn mực trong thương mại. Để làm rõ hơn cho tiêu chí này, Công ước cũng đưa ra các hành vi cụ thể bị ngăn cấm bao gồm: hành vi gây nhầm lẫn; khẳng định/ tuyên bố sai lệch và chỉ dân có thể gây nhầm lẫn.2 Điểm chung của những hành vi này đó là đi ngược với những chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh đã được thừa nhận rộng rãi, 1 Clause 2, Article 10bis, Paris Convention for the Protection of Industrial Property – Paris Convention, <bản dịch: https:// moj.vn/qt/cacchuyenmuc/pldn/Pages/duhp.aspx?ItemID=4>, truy cập ngày 10/1/2022. 2 Clause 3, Article 10bis, Paris Convention for the Protection of Industrial Property – Paris Convention.
C2 thực hiện với mục đích gây nên những tác động xấu đến đối thủ cạnh tranh. Hiểu một cách đơn giản hơn thì tính không lành mạnh ở đây thể hiện thông qua các hành vi không đẹp, không phù hợp trong thị trường kinh doanh. 3 Cách hiểu này có phần đồng nhất với định nghĩa của cạnh tranh không lành mạnh tại Chỉ thị 2005/29/EC của Liên minh Châu Âu4, theo đó một hành vi bị xem là cạnh tranh không lành mạnh khi: (1) Hành vi đó trái với những yêu cầu tiêu chuẩn của “professional dilligence” (tạm dịch: siêng năng nghề nghiệp), nghĩa là hành vi không được trái với các tiêu chuẩn hợp lý mà các thương nhân đặt ra, không đi ngược với thông lệ của thị trường và nguyên tắc chung trong hoạt động của thương nhân;5 (2) Gây ra các ảnh hưởng hoặc có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới thương nhân khác. Như vậy về các yếu tố để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Công ước Paris hay Chỉ thị 2005/29/EC thì đều đặt ra yếu tố chung đó phải là hành vi đi ngược lại với thông lệ trong kinh doanh.
Trên thực tế, các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu đã soạn thảo các quy định chung trong việc kiểm soát thị trường cạnh tranh, tuy nhiên điểm trọng yếu trong xác định cạnh tranh không lành mạnh đó là tính công bằng. 6 Dù vậy để xác định tính công bằng trong hoạt động thương mại là khá khó khăn. Các thuật ngữ như “tính trung thực”, “đạo đức trong kinh doanh” thực tế vẫn còn mơ hồ và chưa rõ ràng, vì xác định đạo đức trong kinh doanh như thế nào có thể phụ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia. Định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhìn chung cũng có phần trùng khớp với quy định của Công ước Paris.
Tại Luật Cạnh tranh 2004, cạnh tranh không lành mạnh được hiểu là: “hành vi cạnh tranh trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh…”. Quy định này được kế thừa và phát triển tại Luật Cạnh tranh 2018, theo đó các nhà làm luật Việt Nam đã xác định “.những hành vi trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực tập quán thương mại và các chuẩn mức khác gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại tới doanh nghiệp 3 Panpadap Oupphaxay (2019), “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr. 4 Article 5 (2) Directive 2005/29/Ec Of The European Parliament And Of The Council Of 11 May 2005 5 Law insider, Professional diligence definition, https://www.com/dictionary/professional-diligence, truy cập ngày 05/02/2022. 6 Frauke Henning-Bodewig (2006),”Unfair Competition Law: European Union and Member States”, Kluwer Law International, page 9, C3 khác” 7 thì bị xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Như vậy, quy định mới có phần chi tiết và cụ thể hơn khi đã làm rõ hơn về tính chất để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh. 8 Về cơ bản, quy định của Luật Cạnh tranh 2018 có những điểm chung với Công ước Paris khi xác định yếu tố trái thiện chí, chuẩn mực tập quán thương mại kinh doanh là căn cứ để xem xét một hành vi có phải cạnh tranh lành mạnh hay không. Tuy nhiên, có thể thấy hướng tiếp cận này của Luật Cạnh tranh 2018 có phần mở rộng hơn so với Công ước Paris, bởi lẽ theo Công ước thì phạm vi của cạnh tranh không lành mạnh chỉ xét với lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Pháp luật Việt Nam đã có hướng xác định rộng hơn, chỉ cần có hành vi trái nguyên tắc và gây hoặc có thể gây thiệt hại thì bị xem là cạnh tranh không lành mạnh.
Tóm lại, hiện nay đối với khái niệm định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam và các văn kiện quốc tế có những điểm chung và phần lớn đều xác định rằng yếu tố trái nguyên tắc thiện chí, đạo đức kinh doanh, hành vi kinh doanh không đẹp là điều kiện quan trọng để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cách tiếp cận này sẽ giúp phân biệt rõ ràng với các hành vi hạn chế cạnh tranh. Từ đó có thể nhận thấy, nếu yếu tố xác định một hành vi hạn chế cạnh tranh là khả năng gây ra tác động hạn chế, cản trở thị trường cạnh tranh 9 thì ngược lại, đối với cạnh tranh không lành mạnh yếu tố quan trọng nhất đó là hành vi trái với đạo đức kinh doanh. Qua đó có thể thấy mức độ của cạnh tranh không lành mạnh hoàn toàn ít ảnh hưởng hơn so với hạn chế cạnh tranh, và chỉ là các vi phạm đi ngược lại với các chuẩn mực quy định nguyên tắc.
Tác giả cho rằng đây là điểm có ý nghĩa trong việc nhìn nhận đúng bản chất cạnh tranh không lành mạnh mà tác giả sẽ đề cập ở các chương sau.2 Đặc điểm và bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Một hành vi bị xem là cạnh tranh không lành mạnh khi có những đặc điểm, tính chất sau đây: Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải là chủ thể kinh doanh. Một đặc điểm của chủ thể kinh doanh chắc chắn đó chính là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, kinh doanh. Trong khi đó sự cạnh tranh chỉ xuất hiện trong lĩnh vực 7 Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018. 8 Nguyễn Văn Phúc (2019), “Thực trạng áp dụng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực khuyến mãi”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Kinh tế - Luật, tr.11 9 Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 C4 kinh tế, cụ thể hơn là giữa những chủ thể cùng hoạt động, kiếm lời trên cùng một thị trường.
Tại Luật Cạnh tranh 2018, các nhà làm luật đã sử dụng thuật ngữ doanh nghiệp, theo đó thuật ngữ này cần được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tổ chức và cá nhân kinh doanh.10 Cách quy định này sẽ đảm bảo bao quát được hết các trường hợp chủ thể có khả năng thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đồng thời những chủ thể này cũng phải hoạt động dựa trên mục đích lợi nhuận, giành lợi ích cho mình thì mới có cơ sở để xem xét đây có phải hành vi cạnh tranh không lành mạnh không. Bởi lẽ, nếu không vì mục tiêu kiếm lời và để doanh nghiệp của mình có được vị trí ưu thế hơn so với doanh nghiệp đối thủ trên cùng thị trường liên quan thì việc cạnh tranh đã không xảy ra, vì vậy cũng không đặt ra vấn đề xem xét hành vi cạnh tranh không lành mạnh do đó cũng không chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh. Thứ hai, hành vi đó phải là hành vi đi ngược với nguyên tắc thiện chí, trung thực tập quán thương mại và các chuẩn mực trong kinh doanh.11 Quy định này so với Luật Cạnh tranh 2004 đã mở rộng hơn, theo đó tại luật cũ hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ là trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh.
12 Tuy nhiên, ở luật mới các nhà làm luật đã mở rộng về tính chất hành vi, sự không lành mạnh của hành vi cạnh tranh còn được thể hiện thông qua sự thiện chí, trung thực, chuẩn mực. Quy định này mang tính chất rõ ràng và đầy đủ hơn so với quy định của pháp luật cạnh tranh trước đây. Đây được xem là đặc điểm quan trọng và rõ ràng nhất để nhận diện hành vi cạnh tranh không lành mạnh so với hành vi hạn chế cạnh tranh.