Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục thanh lý tài sản phá sản Chương 2: Thanh lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả thực thi quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 1. KHÁI NIỆM TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN Về mặt ngữ nghĩa, từ “phá sản” bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng Latin để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp mà biểu hiện trực tiếp là không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tại Việt Nam, từ thời xa xưa, người dân quen dùng từ “vỡ nợ”, “khánh tận” để chỉ tình trạng làm ăn thua lỗ của chủ thể kinh doanh. Mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới đều có các tiêu chí khác nhau về điều kiện cũng như thời điểm xác định tình trạng phá sản của một doanh nghiệp.
Việc xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa quan trọng vì nó xác định sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ [32]. Nghiên cứu pháp luật nhiều nước cho thấy, hiện nay có hai loại tiêu chí để xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: tiêu chí về định lượng và tiêu chí về định tính. Kinh nghiệm của một số nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng, thường có quy định về số nợ cụ thể, về thời hạn chậm thanh toán nợ từ phía doanh nghiệp mắc nợ sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ. Ví dụ: Điều 6 Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định số nợ không thấp hơn 100.000 rúp với chủ nợ là pháp nhân và 10.000 rúp với chủ nợ là cá nhân.
Theo Luật Công ty của Úc thì chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định bắt đầu thủ tục thanh toán tài sản của một công ty vì lý do “vỡ nợ” nếu Công ty đó có một khoản nợ đến hạn ít nhất là 2.000 AUD và Công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó [14]; Luật phá sản của Singapore thì quy định con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi không trả được số nợ đến hạn ít nhất là 5.000 đô la Singapore; ở Mỹ, số tiền này là không dưới 10. Đối với pháp luật Việt Nam, các nhà lập pháp ở các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng có cùng một quan điểm về tình trạng phá sản như nhiều nước trên thế giới. Bộ luật thương mại Sài Gòn năm 1972 đã quy định tại Điều 864: “Thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị Tòa tuyên án khánh tận”[41]. Trong Luật Phá sản doanh nghiệp Việt Nam năm 1993, Điều 2 quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”.
Như vậy, khái niệm tình trạng phá sản đã được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa hai tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ lương liên tiếp với người lao động. Tính định tính còn thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp mắc nợ. Khái niệm phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn gắn với lý do khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng.
Với việc đưa ra khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như vậy đã gây không ít khó khăn cho các chủ nợ trong việc chứng minh tình trạng thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ. Vì chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ chậm thanh toán thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần phải biết. Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của chủ nợ.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật Phá sản năm 2004 quy định tại Điều 3: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”. Như vậy, để bị xem là lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp phải đồng thời hội đủ hai điều kiện cơ bản: điều kiện cần là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và điều kiện đủ là khi chủ nợ chính thức có đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ đó, bất luận giá trị khoản nợ đó là bao nhiêu. Tình trạng phá sản là tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn, do đó có thể dẫn tới một hệ quả rằng bản án phá sản là bản án xác nhận một tình trạng đã có sẵn. Khi xét một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật Việt Nam đã không xét đến lý do không thanh toán được các khoản nợ đến hạn; không xét đến thời hạn quá hạn thanh toán là bao lâu; không yêu cầu giá trị khoản nợ không có khả năng thanh toán là bao nhiêu; không yêu cầu có bao nhiêu chủ nợ; mà chỉ cần doanh nghiệp đó có khoản nợ đến hạn phải thanh toán; có việc chủ nợ yêu cầu thanh toán khoản nợ đó nhưng lại không có khả năng thanh toán được; thậm chí doanh nghiệp có văn bản xin khất nợ nhưng chủ nợ không đồng ý hoặc không trả lời.
Với khái niệm như quy định tại Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam thì khái niệm “tình trạng phá sản” dù hoàn thiện hơn so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 nhưng vẫn còn hạn chế ở tính thiếu triệt để của nó. Khái niệm này đã không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ. Về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán 01 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ đó thì có thể cũng bị xem là lâm vào tình trạng phá sản. Hệ quả dẫn tới sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ.
Thuật ngữ “các khoản nợ” nêu trong Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 nếu hiểu theo quy định tại Điều 37 Luật này thì đó là các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mại và lao động. Còn các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính. của doanh nghiệp không được đề cập đến. THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN Bản chất của thủ tục thanh lý là việc Tòa án ra quyết định chấm dứt hoạt động của con nợ và nhân cơ hội đó mà thu hồi tài sản còn lại của con nợ, bán đi và chia cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định.
Như vậy, thủ tục thanh lý liên quan đến ba hoạt động: thu hồi tài sản, bán đấu giá tài sản và thanh toán tiền cho các chủ nợ [19, tr. Thu hồi tài sản phá sản Bắt đầu thủ tục thanh lý tài sản phá sản, chủ thể đảm nhận nhiệm vụ này sẽ phải có nghĩa vụ thông báo cho các chủ nợ, rồi tiến hành kê biên tài sản để thu hồi tài sản phá sản. Việc xác định cụ thể tài sản phá sản góp phần làm căn cứ xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã đến mức có thể tuyên phá sản ngay hay còn cần áp dụng thủ tục pháp lý khác đồng thời nó xác định việc áp dụng các biện pháp bảo toàn, quản lý tài sản có lợi nhất cho chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ. Tài sản phá sản bao gồm tài sản có và tài sản nợ của doanh nghiệp (tài sản phát sinh trong quá trình doanh nghiệp thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tài sản phát sinh trong giai đoạn thanh lý tài sản; tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu do doanh nghiệp thực hiện trong khoảng thời gian nhất định trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản).
Với mỗi quốc gia khác nhau thì nguyên tắc và cách thức để xác định khối tài sản phá sản lại mang những nét riêng biệt. Pháp luật về phá sản của Cộng hòa Liên bang Nga đã quy định về việc định giá khối tài sản phá sản như sau: “1. Tất cả các tài sản (phần có) của người mắc nợ thể hiện trong bảng cân đối kế toán hoặc các tài liệu kế toán thay thế là cơ sở để xác định tài sản 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phá sản. Trong tài sản phá sản còn bao gồm các đối tượng thuộc lĩnh vực công cộng và xã hội nằm trong bảng cân đối của người mắc nợ, trừ quỹ nhà ở, các trường mẫu giáo và các công trình sản xuất và hạ tầng quan trọng đối với đời sống của khu vực, cần được đưa vào bảng cân đối của các cơ quan tự quản ở địa phương hoặc cơ quan quyền lực nhà nước hữu quan, nếu pháp luật của Liên bang Nga không có quy định khác; 2.
Trong quá trình thanh lý tài sản, nhân viên thanh lý tài sản, với sự giúp đỡ của các giám định viên được trưng cầu, tiến hành kiểm kê và định giá tài sản (phần có) của người mắc nợ và nghĩa vụ (phần nợ) của người mắc nợ.