Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 1. BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 1. Khái quát về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 1. Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Ở nước ta, khái niệm phá sản xuất hiện sau thời kỳ đổi mới cơ chế kinh tế.
Văn bản pháp lý đầu tiên liên quan đến giải quyết tình trạng doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không có khả năng thanh toán nợ đó là Quyết định số 315/QĐ-HĐBT ngày 01/09/1990 của Hội đồng Bộ trưởng. Tại khoản 4 Điều 3 của Quyết định quy định: Đối với các đơn vị kinh doanh thua lỗ kéo dài nhiều năm thì Bộ và địa phương phải lập danh sách đầy đủ, tiến hành phân loại theo mức độ quan trọng của các sản phẩm và dịch vụ do đơn vị tạo ra và theo mức độ kém hiệu quả của các đơn vị. Từ đó có thể tìm ra các biện pháp để hỗ trợ cho các đơn vị sáp nhập vào các xí nghiệp khác hoặc chuyển đổi thành các tổ chức kinh tế tập thể. Nếu đơn vị đã thực hiện các biện pháp chấn chỉnh trên mà vẫn không có hiệu quả, tiếp tục thua lỗ và không có khả năng trả nợ thì cho phép giả thể [12].
Như vậy Quyết định này đã đề cập đến doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không có khả năng thanh toán nợ, nếu xét về bản chất thì nó là phá sản. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhưng trong thời điểm này thì doanh nghiệp chỉ được phép giải thể bởi vì khái niệm về phá sản doanh nghiệp tại thời điểm này chưa được đặt ra. Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và luật công ty năm 1990 đã bước đầu đề cập đến khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Theo Điều 24 - Luật công ty 1990: ''Công ty gặp khó khăn thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến lúc tại một thời điểm tổng số các tài sản của công ty không đủ để thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn là công ty lâm vào tình trạng phá sản".
Định nghĩa này đã có điểm hạn chế rất lớn là chưa phản ánh được bản chất của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Bởi vì, tại một thời điểm nào đó mà tổng giá trị tài sản của công ty không đủ để thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn nhưng chưa chắc doanh nghiệp đó đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ nếu như các chủ nợ thực hiện việc hoãn nợ, xóa nợ cho doanh nghiệp hoặc có người mua nợ hoặc bảo lãnh cho doanh nghiệp. Trong quá trình nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn về nhận thức vấn đề phá sản doanh nghiệp, khắc phục những hạn chế trong Luật công ty 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990. Luật phá sản doanh nghiệp 1993 là đạo luật về phá sản đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa ra dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và nguyên nhân của việc mất khả năng thanh toán, hành động của doanh nghiệp khi bị mất khả năng thanh toán, làm cơ sở cho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.
Theo quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam 1993 thì doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản phải thỏa mãn các dấu hiệu sau: Thứ nhất: Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. Thứ hai: Doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba: Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục việc mất khả năng thanh toán nhưng vẫn không khắc phục được. Quy định này cho thấy việc mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là do doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong kinh doanh một cách trầm trọng và đã áp dụng các biện pháp tài chính để khắc phục nhưng không đạt kết quả chứ không phải do một nguyên nhân nào khác.
Về mặt pháp lý, doanh nghiệp chỉ bị xem là phá sản khi có quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tình trạng mất khả năng thanh toán chỉ là tình trạng báo động rằng doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị tuyên bố phá sản. Sẽ không có một doanh nghiệp nào bị phá sản khi chưa có yêu cầu tuyên bố phá sản của chủ nợ, công đoàn hoặc chính doanh nghiệp mắc nợ hay Tòa án chưa chủ động mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan có thẩm quyền là cơ sở pháp lý xác định tính hợp pháp của một cái chết đã được dự báo khi chưa có quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan có thẩm quyền thì dù doanh nghiệp có chấm dứt hoạt động kinh doanh thì cũng chỉ là "Một cái chết chưa được chôn".
Như vậy, về mặt pháp lý nếu dùng khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản năm 1993 để chỉ tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn một cách thực sự quan trọng và đang đứng bên bờ vực phá sản làm cơ sở để ra quyết định tuyên bố phá sản là chưa hợp lý và đã gây không ít khó khăn cho chủ nợ trong việc chứng minh là doanh nghiệp đã trễ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Còn vì sao doanh nghiệp trễ hạn thanh toán không trả nợ thì chủ nợ không biết mà cũng không cần phải biết. Chính vì việc xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn nhiều điểm chưa hợp lý nên điều này đã được sửa đổi tại Điều 3 - Luật phá sản năm 2004 như sau: " Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu". Như vậy, để bị xem là lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp đồng thời phải hội đủ hai điều kiện cơ bản là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và khi chủ nợ chính thức yêu cầu thanh toán nợ mà doanh nghiệp không có khả năng trả được các khoản nợ đó.
Đây là một bước tiến lớn của pháp luật phá sản nước ta và đã thể hiện sự can thiệp sớm của nhà nước vào hiện tượng phá sản. Việc ghi nhận các vấn đề liên quan đến thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và thủ tục thanh lý nợ của doanh nghiệp được quy định từ Điều 13 đến Điều 94 của Luật phá sản năm 2004, Luật phá sản là luật về thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo tinh thần của Luật phá sản, các thủ tục phục hồi hoặc thanh lý nợ khác liên quan tới quá trình phục hồi khi doanh nghiệp tự phục hồi, sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hoặc thủ tục thanh toán nợ trong tố tụng dân sự. Tính chất đặc thù của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được nhìn nhận trong mối quan hệ so sánh với quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong kinh doanh nhưng chưa bị yêu cầu mở thủ tục phá sản.
So sánh với quá trình tự phục hồi đó, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có sự khác biệt cơ bản đó là: Quá trình tự phục hồi là giải pháp tổ chức sản xuất kinh doanh được doanh nghiệp chủ động thực hiện, còn phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lại là thủ tục tư pháp. Trong kinh doanh, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ. Khi đó, để lành mạnh hóa hoạt động của doanh nghiệp khỏi phải lâm vào tình trạng phá sản, chủ doanh nghiệp có thể thực hiện việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh hay nói cách khác tự phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Quá trình phục hồi này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp, họ tự quyết định có hay không thực hiện 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; tự quyết định các phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cũng như thực hiện phương án phục hồi.
Khác với quy trình tự phục hồi, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục tư pháp. Đây là một giai đoạn trong thủ tục yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp, được tiến hành sau khi Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp và chính Tòa án là người quyết định thủ tục phục hồi này. Mặc dù công việc chính trong quá trình phục hồi do doanh nghiệp thực hiện nhưng việc phục hồi chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định về nội dung, thủ tục xem xét thông qua và thời hạn thực hiện phương án phục hồi phải tuân thủ theo đúng những quy định của pháp luật. Hơn nữa, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nằm dưới sự giám sát nghiêm ngặt của Tòa án cũng như các chủ nợ và doanh nghiệp phải chịu những hậu quả pháp lý tồi tệ trong trường hợp doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh của mình không thành công.
Những căn cứ để tiến hành thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Theo quy định tại Điều 2 - Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993: "Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn" Tại nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ quy định dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản là: "Doanh nghiệp bị thua lỗ trong 2 năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và hợp đồng lao động trong 3 tháng liên tiếp" 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo các quy định này, có thể nói các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay những người nộp đơn đề nghị giải quyết phá sản doanh nghiệp là rất khó có thể đưa vụ việc đến Tòa án.