Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán số dƣ đầu năm khi kiểm toán BCTC năm đầu tiên Chƣơng 2: Thực trạng về các thủ tục kiểm toán số dƣ đầu năm khi kiểm toán BCTC năm đầu tiên do Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện Chƣơng 3: - Đánh giá và đề ra một số biện pháp để hoàn thiện công tác kiểm toán số dƣ đầu năm khi kiểm toán BCTC năm đầu tiên do Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện Phần III: Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN SỐ DƢ ĐẦU NĂM KHI KIỂM TOÁN BCTC NĂM ĐẦU TIÊN 1. Tổng quan về kiểm toán báo cáo tài chính 1. Khái niệm kiểm toán BCTC Khái niệm kiểm toán: Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC): “Kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”. Theo Nghị định 07/CP ban hành ngày 29/1/94 của Chính Phủ - kiểm toán độc lập là việc kiểm tra, xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và bảo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của các đơn vị này.
Theo Giáo trình Kiểm toán, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trƣờng Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin đƣợc kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã đƣợc thiết lập. Quá trình kiểm toán phải đƣợc thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập”. Có rất nhiều khái niệm về kiểm toán, nhƣng theo các tác giả Alvin A.Arens và James K.Loebbecker trong giáo trình "Kiểm toán" đã nêu một định nghĩa chung về kiếm toán nhƣ sau: Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính: Theo Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/ QH12 ngày 29/3/2011 “Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi 5 nhánh doanh nghiệp kiểm toán nƣớc ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đƣa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị đƣợc kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán”.
Đối tượng của kiểm toán BCTC Đối tƣợng kiểm toán BCTC bao gồm: - Bảng cân đối tài khoản - Báo cáo tình hình tài chính - Bảng cân đối kế toán - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ - Thuyết minh báo cáo tài chính Các báo cáo này chứa đựng những thông tin tài chính và thông tin phi tài chính, thông tin định lƣợng và thông tin không định lƣợng, phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình và kết quả lƣu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác để ngƣời sử dụng báo cáo tài chính có thể phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị. Cơ sở của báo cáo tài chính là các quy định về Kế toán , gồm cả quy định pháp lý về Kế toán nhƣ: luật Kế toán, chuẩn mực Kế toán, chế độ Kế toán, và quy định về Kế toán tại đơn vị nhƣ các quy định về hệ thống tài khoản, hình thức ghi sổ kế toán… Ngoài ra cơ sở của BCTC còn bao gồm cả các quy định pháp lý khác có liên quan đến quá trình tổ chức và hoạt động kinh doanh của đơn vị nhƣ những quy định về sản xuất kinh doanh, trao đổi, mua bán sản phẩm, quản lý lao động, vật tƣ, nghĩa vụ đối với ngân sách… 1. Mục tiêu kiểm toán BCTC - Theo chuẩn mực kiểm toán số 200: Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên 6 và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là: Đạt đƣợc sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phƣơng diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đƣa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có đƣợc lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính đƣợc áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không.
Lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính và trao đổi thông tin theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, phù hợp với các phát hiện của kiểm toán viên. Hơn nữa, mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị đƣợc kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót cần khắc phục nhằm nâng cao chất lƣợng thông tin tài chính của đơn vị đƣợc kiểm toán. Nguyên tắc cơ bản của kiểm toán báo cáo tài chính - Tuân thủ pháp luật: Kiểm toán viên phải luôn coi trọng và chấp hành đúng pháp luật của Nhà nƣớc trong quá trình hành nghề kiểm toán. - Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp : Độc lập, trung thực, khách quan, bí mật thông tin , năng lực chuyên môn và tính thận trọng.
- Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán: Kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế đƣợc Việt Nam chấp nhận. - Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp. Tổng quan về kiểm toán năm đầu tiên – Số dƣ đầu kỳ 1. Giới thiệu về Chuẩn mực kiểm toán số 510: Kiểm toán năm đầu tiên – số dư đầu kỳ Chuẩn mực kiểm toán 510 đƣợc Ban hành theo Thông tƣ số 214/2012/TT-BTC 7 ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hƣớng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đến số dƣ đầu năm tài chính khi kiểm toán BCTC năm đầu tiên.
Chuẩn mực này cũng yêu cầu kiểm toán viên nắm đƣợc những sự kiện không chắc chắn hay những cam kết hiện hữu ở thời điểm đầu năm tài chính trong trƣờng hợp kiểm toán báo cáo tài chính năm đầu tiên. Chuẩn mực này áp dụng cho kiểm toán báo cáo tài chính năm đầu tiên và đƣợc vận dụng cho kiểm toán năm đầu tiên các thông tin tài chính khác. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải tuân thủ những quy định của chuẩn mực này trong quá trình kiểm toán số dƣ đầu năm khi kiểm toán báo cáo tài chính năm đầu tiên. Các khái niệm của kiểm toán năm đầu tiền – Số dư đầu kỳ - Số dư đầu kỳ (đoạn 4 – VSA 510) Theo chuẩn mực kiểm toán 510 “Số dƣ đầu kỳ: Là số dƣ tài khoản tại thời điểm đầu kỳ.
Số dƣ đầu kỳ dựa vào số dƣ cuối kỳ của kỳ trƣớc đó và phản ánh ảnh hƣởng của các giao dịch, sự kiện của các kỳ trƣớc và các chính sách kế toán đƣợc áp dụng trong kỳ trƣớc. Số dƣ đầu kỳ cũng bao gồm những vấn đề cần phải thuyết minh đã tồn tại vào thời điểm đầu kỳ, nhƣ các khoản tài sản, nợ tiềm tàng và các cam kết. - Kiểm toán năm đầu tiên (đoạn 4 – VSA 510) Kiểm toán năm đầu tiên là cuộc kiểm toán đƣợc thực hiện cho các đối tƣợng khách hàng là khách hàng mới của công ty kiểm toán. Trong đó, báo cáo tài chính kỳ trƣớc đó của khách hàng không đƣợc kiểm toán hoặc đã đƣợc kiểm toán bởi kiểm toán viên tiền nhiệm.
- Kiểm toán viên tiền nhiệm: Là kiểm toán viên của doanh nghiệp kiểm toán khác đã thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của đơn vị đƣợc kiểm toán trong kỳ trƣớc đó và đã đƣợc thay thế bằng kiểm toán viên hiện tại. Mục đích của việc kiểm tra lại số dƣ năm đầu tiên Chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 200 – Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC, đoạn 11 xác định: “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đƣa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có đƣợc lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đƣợc chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không”. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 510 - Kiểm toán năm đầu tiên - Số dƣ đầu năm tài chính: “Khi thực hiện kiểm toán năm đầu tiên, mục tiêu của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với số dƣ đầu kỳ là thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc”: - Số dƣ đầu kỳ có chứa đựng sai sót gây ảnh hƣởng trọng yếu đến báo cáo tài chính kỳ hiện tại hay không. - Các chính sách kế toán thích hợp đƣợc phản ánh trong số dƣ đầu kỳ có đƣợc áp dụng nhất quán trong báo cáo tài chính kỳ hiện tại hay không, hoặc những thay đổi đối với các chính sách kế toán có đƣợc xử lý một cách thích hợp hoặc đƣợc trình bày và thuyết minh đầy đủ theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính đƣợc áp dụng hay không.
Sự cần thiết của việc kiểm toán BCTC - số dƣ đầu kỳ năm đầu tiên Khi kiểm toán năm đầu tiên, KTV phải đối mặt nhiều rủi ro vì: - Khách hàng là khách hàng năm thứ nhất nên KTV chƣa hiểu rõ về tình hình tài chính, hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ hay là những đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị… Vậy nên KTV khó có thể phát hiện ra các gian lận hay là sai sót của đơn vị. - Các số dƣ đầu kỳ có thể đƣợc kết chuyển không chính xác hoặc có thể chứa đựng những sai sót ảnh hƣởng trọng yếu đến BCTC của kỳ hiện tại.