Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại xuyên biên giới ngày càng phát triển với quy mô và tốc độ lớn. Khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng trưởng nhanh chóng, kéo theo sự bùng nổ của phương thức vận chuyển bằng dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế. Hoạt động chuyển phát nhanh đóng vai trò thiết yếu đối với việc lưu thông các lô hàng có tính cấp bách về mặt thời gian, hàng mẫu, tài liệu thương mại và hàng hóa có giá trị cao. Song song với việc tạo thuận lợi thương mại, vai trò của cơ quan hải quan ngày càng mở rộng sang bảo đảm an ninh quốc gia, kiểm soát nguy cơ buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm có tổ chức và vận chuyển hàng cấm qua biên giới.

Xuất phát từ quá trình thực tập tại Đội thủ tục hàng hóa chuyển phát nhanh thuộc Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội, tác giả Trần Thị Hưởng (Lớp CQ46/05.02, chuyên ngành Hải quan) đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “Thủ tục Hải quan đối với hàng hóa Xuất nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh TNT tại chi cục Hải quan Bắc Hà Nội”.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định gồm hai nội dung chính:

  1. Đánh giá thực trạng thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội, trọng tâm là luồng hàng do Công ty Chuyển phát nhanh TNT đảm nhận.
  2. Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị có căn cứ thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và thực hiện thủ tục hải quan đối với loại hình hàng hóa này trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình nghiệp vụ, cơ chế phối hợp và thực tiễn thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh của doanh nghiệp TNT. Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội (cụ thể là Đội thủ tục hàng hóa chuyển phát nhanh tại địa điểm kiểm tra tập trung ICD Mỹ Đình, số 17 đường Phạm Hùng, Hà Nội). Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 2008 – 2011, phân tích số liệu thống kê nghiệp vụ qua các năm và định hướng công tác quản lý cho giai đoạn 2011 – 2015.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Chuyên đề vận dụng hệ thống lý luận quản lý hải quan hiện đại và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:

  • Khái niệm thủ tục hải quan: Tiếp cận theo Công ước Kyoto sửa đổi của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) và Điều 16 Luật Hải quan Việt Nam, xác định thủ tục hải quan là chuỗi hoạt động tác nghiệp mang tính bắt buộc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh.
  • Bản chất dịch vụ chuyển phát nhanh: Hoạt động gom hàng (consolidation), phát hành vận đơn thứ cấp (House B/L, House Airway Bill), vận chuyển đa phương thức (MTO) và chức năng đại lý khai thuê hải quan (customs broker) thay mặt chủ hàng thực hiện nghĩa vụ khai báo, nộp thuế.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật áp dụng:
    • Luật Hải quan số 29/2001/QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11.
    • Nghị định số 154/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan; Nghị định số 118/2008/NĐ-CP về tổ chức bộ máy Bộ Tài chính.
    • Thông tư số 100/2010/TT-BTC quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đường hàng không quốc tế.
    • Thông tư số 36/2011/TT-BTC quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đường bộ.
    • Thông tư số 194/2010/TT-BTC (thay thế Thông tư số 79/2009/TT-BTC) hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát, thuế xuất nhập khẩu và quản lý thuế.
    • Quyết định số 1171/QĐ-TCHQ ngày 15/06/2009 và Quyết định số 437/QĐ-TCHQ ngày 09/03/2010 của Tổng cục Hải quan ban hành quy trình thủ tục hải quan chuẩn.
    • Các văn bản quản lý chuyên ngành liên quan: Thông tư số 24/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, Thông tư số 14/2011/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về kiềm chế nhập siêu.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu học thuật kết hợp thực tiễn:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa các khái niệm, quy chuẩn pháp lý và quy trình nghiệp vụ thông quan theo luật định.
  • Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu số liệu: Thu thập số liệu tờ khai, kim ngạch xuất nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng và số thu thuế qua các năm 2008, 2009, 2010, 2011 tại đơn vị để đánh giá tốc độ tăng trưởng, biến động luồng hàng.
  • Phương pháp quan sát và mô tả thực tế: Ghi nhận thực tế quy trình tác nghiệp của cán bộ hải quan và nhân viên TNT tại Đội thủ tục hàng hóa chuyển phát nhanh ICD Mỹ Đình.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết công tác hàng năm (2008 – 2011) của Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội, hồ sơ nghiệp vụ, văn bản chỉ đạo của Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan TP. Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về dịch vụ chuyển phát nhanh và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngành dịch vụ chuyển phát nhanh và khung khổ pháp lý điều chỉnh thủ tục hải quan:

  • Đặc trưng dịch vụ chuyển phát nhanh: Tác giả chỉ rõ các yếu tố cốt lõi như thời gian toàn trình ngắn, tính xác định cam kết, dịch vụ chuyển phát bảo đảm (có chữ ký, thời gian giao nhận), giao nhận tận nơi (door-to-door), truy tìm và định vị đơn hàng (track & trace). Doanh nghiệp chuyển phát nhanh đóng vai trò người gom hàng (cấp House B/L dựa trên Master B/L của hãng vận chuyển), đại lý làm thủ tục hải quan và nhà giao nhận vận tải (forwarder).
  • Lịch sử phát triển ngành chuyển phát nhanh: Khái quát lịch sử thế giới với các tập đoàn lớn (UPS ra đời năm 1919 tại Mỹ; TNT thành lập năm 1946 tại Úc bởi Ken Thomas; DHL thành lập năm 1969). Tại Việt Nam, dịch vụ chuyển dịch từ độc quyền bưu chính sang xã hội hóa với các công ty nội địa (Tín Thành, Hợp Nhất, BCN Express, GNN) và các liên doanh quốc tế (TNT, DHL, FedEx). Theo cam kết gia nhập WTO, từ ngày 11/01/2012, Việt Nam chính thức mở cửa cho phép thành lập doanh nghiệp chuyển phát nhanh 100% vốn nước ngoài.
  • Doanh nghiệp TNT Việt Nam: Thành lập năm 1995 (liên doanh TNT-Vietrans), là doanh nghiệp chuyển phát nhanh liên doanh đầu tiên tại Việt Nam, quy mô hơn 450 nhân viên, hiện diện tại 3 sân bay quốc tế (Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM) cùng mạng lưới 23 chi nhánh trên cả nước.
  • Quy trình thủ tục hải quan 4 bước chuẩn:
    1. Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ; kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai; phân luồng trên hệ thống điện tử; duyệt thông quan đối với luồng miễn kiểm tra thực tế (Luồng Xanh).
    2. Bước 2: Kiểm tra thực tế hàng hóa và thông quan đối với lô hàng phải kiểm tra (Luồng Đỏ/Luồng Vàng).
    3. Bước 3: Thu thuế, thu lệ phí hải quan, đóng dấu “Đã làm thủ tục hải quan” và trả tờ khai cho người khai hải quan.
    4. Bước 4: Phúc tập hồ sơ và lưu trữ theo chế độ báo cáo.

Chương 2: Tình hình thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh TNT tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội

Chương 2 đi sâu phản ánh tổ chức bộ máy và thực tế vận hành tại Chi cục:

  • Lịch sử phát triển và cơ cấu tổ chức Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội: Tiền thân là Trạm Hải quan số I Hà Nội (thành lập ngày 02/06/1981 theo Quyết định số 580/BNgT-TCCB), sau đổi tên thành Hải quan Giảng Võ (1985), Hải quan Đường Láng (1999) và chính thức mang tên Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội từ ngày 16/12/2001 theo Quyết định số 364/QĐ-TCCB. Lãnh đạo Chi cục gồm 1 Chi cục trưởng (Phạm Trần Thành) và 4 Phó Chi cục trưởng (Trần Thị Lan Anh, Đào Văn Xuân, Phạm Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thanh Hương), quản lý 5 đội công tác.
  • Đội thủ tục hàng hóa chuyển phát nhanh (CPN): Thành lập theo Quyết định số 460/QĐ-HQHN ngày 23/06/2010 của Cục trưởng Cục Hải quan TP. Hà Nội, đặt tại ICD Mỹ Đình. Đội gồm Đội trưởng Nguyễn Viết Cẩn, 2 Phó Đội trưởng (Nguyễn Ngọc Chương và Nghiêm Quốc Tuấn) chia thành hai bộ phận tác nghiệp: Nhóm tiếp nhận hồ sơ - tính thuế - trả tờ khai (5 công chức) và Nhóm giám sát - kiểm tra thực tế hàng hóa.
  • Quy chế phân định trách nhiệm thông quan hàng CPN TNT:
    • Trách nhiệm của TNT: Thay mặt chủ hàng đứng tên khai báo hải quan, xuất trình hàng hóa kiểm tra, nộp thuế và lệ phí. Áp dụng cơ chế khai gộp theo chuyến cho hàng miễn thuế, hàng phi mậu dịch hoặc hàng có thuế suất 0%; khai riêng từng tờ khai cho hàng có thuế. Sử dụng phiếu chuyển nghiệp vụ HQ 02-CCKBĐ khi chuyển cửa khẩu.
    • Trách nhiệm của cơ quan Hải quan: Tiếp nhận, đối soát dữ liệu, quyết định hình thức kiểm tra thực tế, thực hiện niêm phong hải quan đối với xe chuyên dụng vận chuyển hàng xuất khẩu ra cửa khẩu, hoàn thuế khi doanh nghiệp khai nhầm loại hình.
  • Đánh giá những tồn tại và nguyên nhân:
    • Phía doanh nghiệp CPN: Trình độ nhân viên khai báo còn yếu, kỹ năng áp mã số HS chưa chính xác, chưa nắm vững chính sách mặt hàng; việc khai thuê phần lớn chỉ đáp ứng được các lô hàng nhỏ lẻ trị giá thấp; có hiện tượng chủ hàng lợi dụng chuyển phát nhanh gửi hàng cấm (ma túy, thuốc nổ, văn hóa phẩm lậu), dùng thông tin nhân thân giả hoặc cố tình khai báo thấp hơn giá trị thực để trốn thuế.
    • Phía cơ quan Hải quan: Hệ thống văn bản quản lý chuyên ngành còn chồng chéo, thay đổi liên tục (như Thông tư 24/2011/TT-BYT bắt buộc xin giấy phép thiết bị y tế nhập lần đầu; Thông tư 14/2011/TT-BTTTT áp mã hàng viễn thông ghi “loại khác” gây khó áp mã); hạ tầng máy tính cũ kỹ, đường truyền mạng hay nghẽn; phần mềm thông quan điện tử chưa liên thông đồng bộ với chương trình Đa chức năng; công tác giám sát kho ALS chưa có phần mềm dùng chung giữa Hải quan và doanh nghiệp hàng không; áp lực biên chế thiếu hụt so với khối lượng công việc gia tăng.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh TNT tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội

Trên cơ sở phương hướng hiện đại hóa giai đoạn 2011 – 2015 và phương châm hành động “Chuyên nghiệp - Minh bạch - Hiệu quả”, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp:

  • Xây dựng quy trình nghiệp vụ hiện đại: Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro dựa trên mức độ tuân thủ của doanh nghiệp; cho phép tiếp nhận thông tin, xử lý vướng mắc trước khi hàng đến (pre-arrival clearance); áp dụng cơ chế nộp thuế gộp định kỳ 1 lần/tháng đối với đại lý khai thuê thay vì nộp lẻ theo từng lô.
  • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và cải cách hành chính: Thiết lập đường dây nóng, nâng cấp hệ thống bốc số tự động tại bộ phận một cửa; đầu tư máy soi container, máy soi kiện hàng, cân điện tử kiểm tra tải trọng; kết nối mạng diện rộng giữa hệ thống của Hải quan với hệ thống quản lý kho ALS.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng định kỳ về kỹ thuật phân loại hàng hóa, xác định trị giá tính thuế, kỹ năng vận hành phần mềm hải quan điện tử cho cán bộ công chức.
  • Tăng cường kiểm soát và chuẩn hóa hoạt động doanh nghiệp khai thuê: Siết chặt điều kiện cấp phép hoạt động đại lý hải quan và công ty giao nhận; quy định chặt chẽ quy trình xác minh thông tin khách hàng vãng lai, khách gửi hàng từ địa chỉ lưu trú tạm thời (khách sạn, nhà nghỉ); phân định rõ nghĩa vụ pháp lý tự tính, tự khai và tự chịu trách nhiệm về thuế của bên làm dịch vụ chuyển phát nhanh.
  • Mở rộng hợp tác quốc tế: Triển khai các chuẩn mực WCO, Công ước Kyoto sửa đổi, hợp tác hải quan một cửa ASEAN và cơ chế phối hợp kiểm tra hải quan một lần tại các tuyến biên giới láng giềng.

Kết quả và đóng góp

Số liệu hoạt động thực tế giai đoạn 2008 – 2011

Chuyên đề phản ánh toàn diện bức tranh thông quan hàng hóa tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội qua các bảng thống kê nghiệp vụ:

Năm Số lượng tờ khai (TK) Tổng kim ngạch XNK (USD) Ghi chú và đặc điểm nổi bật
2008 24.311 TK (lũy kế đến 15/10/2008)
Ước cả năm: ~28.000 TK
1,370 tỷ USD (đến 15/10/2008)
Ước cả năm: 1,581 tỷ USD
Cơ cấu chủ yếu là hàng mậu dịch (11.000 TK xuất, 11.000 TK nhập) và hàng phi mậu dịch.
2009 43.100 TK (đến 15/12/2009)
Ước cả năm: 44.100 TK (tăng 54,6% so với 2008)
Ước cả năm: ~2,29 tỷ USD Nhập khẩu ICD đạt 105 TK (trị giá 8 triệu USD, thuế 36,53 tỷ đồng); Nhập kho ngoại quan 304 TK (trị giá 42 triệu USD).
2010 37.794 TK (đến 15/10/2010)
Ước cả năm: 44.000 TK (tăng 54,25% so với 2008)
1,9 tỷ USD (đến 15/10/2010)
Ước cả năm: 2,5 tỷ USD
Nhập khẩu ICD đạt 224 TK (trị giá 31 triệu USD, thuế 97 tỷ đồng); Nhập kho ngoại quan 11 TK (trị giá 8 triệu USD).
2011 35.006 TK (đến 15/11/2011)
Ước cả năm: ~40.000 TK (tăng 40,23% so với 2008)
2,6 tỷ USD (đến 15/11/2011)
Ước cả năm: ~3,0 tỷ USD
Tỷ lệ tờ khai điện tử đạt xấp xỉ 98%; thời gian làm thủ tục hải quan rút ngắn từ 7-8 giờ xuống còn 2-3 phút đối với luồng thông quan điện tử.

Phân tích xu hướng luồng hàng: Giai đoạn 2009 – 2011 chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về trị giá và số lượng hàng gửi qua chuyển phát nhanh. Mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu gồm: trang thiết bị khoa học kỹ thuật, thiết bị y tế, viễn thông, linh kiện phụ tùng ô tô, xe máy, máy biến thế. Số lượng tờ khai năm 2011 có sự suy giảm nhẹ so với năm 2009 và 2010 do chính sách thắt chặt nhập siêu theo Nghị quyết 11/NQ-CP (hạn chế các mặt hàng tiêu dùng như điện thoại di động, mỹ phẩm, rượu, xe ô tô) và sự suy giảm kim ngạch xuất khẩu vàng trang sức từ tháng 8/2011.

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  1. Đề tài hệ thống hóa một cách chi tiết quy trình tác nghiệp hải quan chuyên biệt đối với hàng hóa chuyển phát nhanh theo các Thông tư đặc thù (Thông tư 100/2010/TT-BTC, Thông tư 36/2011/TT-BTC).
  2. Phân định rõ ràng trách nhiệm pháp lý và mối quan hệ nghiệp vụ giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp khai thuê hải quan (TNT) tại địa bàn ICD Mỹ Đình.
  3. Chỉ ra các điểm nghẽn cụ thể giữa các quy định chuyên ngành của các Bộ (Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông) với biểu thuế xuất nhập khẩu và phân loại HS của Tổng cục Hải quan, làm cơ sở kiến nghị hoàn thiện thể chế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu khai thác số liệu thống kê thứ cấp nội bộ từ các báo cáo định kỳ của Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội giai đoạn 2008 – 2011; mẫu khảo sát thực tế tập trung vào luồng hàng của doanh nghiệp chuyển phát nhanh TNT tại địa điểm ICD Mỹ Đình nên chưa so sánh mở rộng với các doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát nhanh khác (như DHL, FedEx) hoặc các cửa khẩu đường bộ, đường hàng không khác (Sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quy trình kiểm soát hải quan tự động khi mô hình thông quan điện tử VNACCS/VCIS được triển khai trên quy mô toàn quốc; đánh giá tác động toàn diện của việc mở cửa thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài từ sau năm 2012 theo cam kết WTO.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu thực tiễn hữu ích đối với:

  • Sinh viên, giảng viên chuyên ngành Hải quan, Kinh tế đối ngoại, Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình 4 bước thông quan thực tế, phân loại tờ khai mậu dịch/phi mậu dịch và cơ chế đại lý khai thuê hải quan.
  • Cán bộ, công chức hải quan và chuyên viên xuất nhập khẩu: Tham khảo các tình huống vướng mắc về áp mã HS, quản lý chuyên ngành y tế, viễn thông và cách thức phân định trách nhiệm với doanh nghiệp chuyển phát nhanh.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Quy trình phân định trách nhiệm cụ thể giữa hãng TNT và cơ quan Hải quan tại Chi cục Bắc Hà Nội (Chương 2).
    • Phân tích những xung đột chính sách giữa văn bản chuyên ngành và quy định quản lý hải quan (Thông tư 24/2011/TT-BYT, Thông tư 14/2011/TT-BTTTT).

Câu hỏi thường gặp

1. Thủ tục hải quan đối với hàng hóa chuyển phát nhanh có điểm gì khác biệt so với hàng hóa thông thường?

Hàng hóa chuyển phát nhanh đòi hỏi tính cấp bách về thời gian nên được áp dụng cơ chế khai báo đặc thù: Doanh nghiệp chuyển phát nhanh (như TNT) có tư cách pháp nhân là người đại diện hợp pháp thay mặt chủ hàng khai hải quan, nộp thuế và lệ phí. Với hàng miễn thuế, hàng phi mậu dịch hoặc hàng có thuế suất 0%, doanh nghiệp được phép gom hàng và đăng ký 1 tờ khai chung kèm bảng kê chi tiết cho nhiều chủ hàng trong cùng một chuyến hàng; riêng hàng có thuế phải khai tờ khai riêng cho từng lô.

2. Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội được thành lập trên cơ sở nào và quản lý các loại hình hải quan nào?

Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội tiền thân là Trạm Hải quan số I Hà Nội (thành lập năm 1981), qua các giai đoạn đổi tên thành Hải quan Giảng Võ (1985), Hải quan Đường Láng (1999) và chính thức mang tên Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội từ tháng 12/2001. Chi cục quản lý nhiều loại hình: hàng hóa ghi cảng đích ICD Mỹ Đình; hàng hóa chuyển tiếp đường biển, đường hàng không, đường bộ; hàng đầu tư tài sản cố định; nguyên phụ liệu gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất; hàng chuyển phát nhanh TNT đường bộ; cửa hàng miễn thuế tại C4 Giảng Võ và kho ngoại quan tại ICD Mỹ Đình.

3. Những vướng mắc chính từ các văn bản quản lý chuyên ngành được tác giả chỉ ra trong khóa luận là gì?

Khóa luận nêu rõ hai vướng mắc tiêu biểu:

  • Thông tư số 24/2011/TT-BYT của Bộ Y tế: Quy định thiết bị y tế không thuộc danh mục cấp phép nhưng nếu nhập khẩu lần đầu vẫn phải xin giấy phép của Bộ Y tế; nếu không phải nhập lần đầu thì phải nộp hồ sơ pháp lý và 5 loại giấy tờ chứng minh, gây kéo dài thời gian thông quan.
  • Thông tư số 14/2011/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông: Danh mục quản lý theo mã HS tại Phụ lục II không theo nguyên tắc biểu thuế hiện hành, nhiều mặt hàng ghi tên “loại khác” khiến công chức hải quan và doanh nghiệp khó xác định mã số áp thuế chính xác.

4. Kết quả ứng dụng thủ tục hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội năm 2011 đạt được những chỉ số nào?

Đến năm 2011, tỷ lệ đăng ký tờ khai qua hệ thống hải quan điện tử tại Chi cục đạt khoảng 98% tổng số lượng tờ khai. Việc thông quan điện tử giúp rút ngắn thời gian làm thủ tục từ 7 – 8 giờ làm việc theo phương thức thủ công xuống chỉ còn 2 – 3 phút đối với các lô hàng thuộc luồng miễn kiểm tra, giảm tối đa khối lượng chứng từ giấy nộp cho cơ quan Hải quan.

5. Tác giả đề xuất những giải pháp gì nhằm kiểm soát rủi ro từ phía khách hàng gửi chuyển phát nhanh?

Tác giả kiến nghị các công ty chuyển phát nhanh phải ban hành quy định nội bộ chặt chẽ về tiếp nhận bưu gửi: tăng cường kiểm soát thông tin đối với khách vãng lai, khách gửi hàng từ các địa chỉ tạm trú (khách sạn, nhà nghỉ); bắt buộc nắm rõ mục đích sử dụng và nhân thân người gửi; đồng thời cơ quan nhà nước cần siết chặt điều kiện cấp phép kinh doanh đối với các công ty giao nhận và đại lý khai thuê hải quan.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hưởng đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận, khung khổ pháp lý và thực tiễn thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh TNT tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội giai đoạn 2008 – 2011. Tác giả đã làm rõ quy trình tác nghiệp 4 bước, nêu bật kết quả đạt được về kim ngạch và tỷ lệ thông quan điện tử (đạt 98% năm 2011), đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về hạ tầng công nghệ, trình độ nhân sự và xung đột văn bản pháp luật chuyên ngành. Hệ thống 6 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn liền với định hướng cải cách hiện đại hóa hải quan và phục vụ hiệu quả cho hoạt động quản lý nhà nước trong bối cảnh Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh.