Luận văn Thạc sĩ: Thu nhập chịu thuế trong Pháp luật Thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích chi tiết các quy định về thu nhập chịu thuế trong pháp luật Thuế thu nhập cá nhân, thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2019

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá các loại thu nhập chịu thuế TNCN theo luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam định hình thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một loại thuế trực thu, đóng vai trò then chốt trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội. Trọng tâm của sắc thuế này chính là khái niệm thu nhập chịu thuế, yếu tố cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế của mỗi cá nhân. Theo luận văn của Bùi Thị Kim Thao (2019), thu nhập chịu thuế TNCN được hiểu là tổng các khoản thu nhập mà cá nhân phải nộp thuế, phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Việc xác định chính xác các nguồn thu nhập này không chỉ giúp nhà nước quản lý hiệu quả nguồn thu ngân sách mà còn tạo ra một môi trường thuế minh bạch, công bằng. Luật Thuế TNCN hiện hành không đưa ra một định nghĩa cụ thể cho “thu nhập chịu thuế” mà thay vào đó, liệt kê 10 nhóm thu nhập chính. Cách tiếp cận này giúp bao quát hầu hết các nguồn thu nhập phát sinh trong xã hội, từ thu nhập từ tiền lương, tiền công đến thu nhập từ kinh doanh hay thu nhập từ đầu tư vốn. Mỗi loại thu nhập lại có những đặc điểm và cách tính thuế riêng, phản ánh tính chất và nguồn gốc hình thành của chúng. Ví dụ, thu nhập từ tiền lương được áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần, trong khi thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản lại áp dụng thuế suất cố định. Việc phân loại này là cơ sở để xây dựng các quy định về các khoản giảm trừ thuế TNCN, như giảm trừ gia cảnh, nhằm đảm bảo tính công bằng theo chiều dọc, hỗ trợ những cá nhân có hoàn cảnh khó khăn. Như vậy, việc nắm vững các quy định về thu nhập chịu thuế là yêu cầu cơ bản đối với cả đối tượng nộp thuế và cơ quan quản lý.

1.1. Cơ sở lý luận về thuế TNCN và thu nhập tính thuế

Về mặt lý luận, thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế đánh vào thu nhập của các cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội và huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước (NSNN). Cơ sở để tính thuế chính là thu nhập tính thuế, được xác định từ thu nhập chịu thuế sau khi đã trừ đi các khoản miễn thuế và các khoản giảm trừ. Luận văn nhấn mạnh, việc xây dựng quy định về thu nhập chịu thuế phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản: tính chất của từng loại thu nhập, khả năng động viên vào NSNN, và khả năng quản lý của cơ quan thuế. Các văn bản pháp luật quan trọng như Luật Thuế TNCN, Nghị định 65/2013/NĐ-CP (nay được thay thế một phần bởi các văn bản mới hơn như Nghị định 126/2020/NĐ-CP) và Thông tư 111/2013/TT-BTC đã tạo ra một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh, phân biệt rõ giữa cá nhân cư trúcá nhân không cư trú để áp dụng phương pháp tính thuế phù hợp.

1.2. Đặc điểm chính của các khoản thu nhập chịu thuế TNCN

Các khoản thu nhập chịu thuế TNCN có một số đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, chúng luôn gắn liền với một chủ thể cụ thể, thể hiện tính sở hữu của thu nhập. Thứ hai, đây là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh và có tính phổ biến. Điều này nhằm đảm bảo tính khả thi và công bằng khi thực thi chính sách thuế. Thứ ba, thu nhập chịu thuế là cơ sở trực tiếp để tính toán số thuế phải nộp, do đó, các quy định phải rõ ràng và dễ áp dụng. Pháp luật Việt Nam phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn gốc phát sinh, bao gồm 10 loại chính như thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, hay thu nhập từ thừa kế, quà tặng. Cách phân loại này giúp điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư và hạn chế việc bỏ sót nguồn thu.

II. Những bất cập trong quy định về thu nhập chịu thuế TNCN

Mặc dù hệ thống pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đã có nhiều cải tiến, thực tiễn áp dụng vẫn cho thấy nhiều bất cập, đặc biệt trong các quy định về thu nhập chịu thuế. Theo phân tích trong luận văn, một trong những vấn đề nổi cộm là sự thiếu rõ ràng và tính không nhất quán trong một số quy định, gây khó khăn cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý. Ví dụ, quy định về các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ khỏi thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công tuy đã được liệt kê nhưng vẫn chưa bao quát hết các tình huống phát sinh trên thực tế. Điều này dẫn đến các cách hiểu và áp dụng khác nhau, tiềm ẩn nguy cơ thất thu thuế hoặc gây thiệt hại cho người lao động. Đối với thu nhập từ kinh doanh, phương pháp tính thuế khoán dựa trên doanh thu đối với hộ kinh doanh có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm cũng gây ra nhiều tranh cãi. Quy định này, dù đơn giản hóa thủ tục hành chính, lại chưa phản ánh đúng bản chất của thu nhập, khi các hộ kinh doanh thua lỗ vẫn phải nộp thuế. Hơn nữa, việc không cho phép giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân kinh doanh theo phương pháp khoán tạo ra sự bất bình đẳng so với người lao động có thu nhập từ tiền lương, tiền công. Những thách thức này đòi hỏi cần có các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả.

2.1. Vướng mắc với các khoản phụ cấp trợ cấp được miễn thuế

Luận văn chỉ ra rằng các quy định về phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công còn tồn tại nhiều điểm chưa hợp lý. Ví dụ, khoản "trợ cấp chuyển vùng một lần" cho người nước ngoài đến Việt Nam làm việc được quy định khá mơ hồ. Câu chữ "một lần" có thể được hiểu theo nhiều cách: một lần cho mỗi hợp đồng lao động, hay chỉ một lần duy nhất trong suốt cuộc đời làm việc tại Việt Nam? Sự không rõ ràng này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một số khoản phụ cấp như phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực về bản chất là tiền lương, tiền công nhưng lại được miễn thuế là chưa phù hợp, cần được xem xét lại để đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.

2.2. Thách thức khi xác định thu nhập chịu thuế từ kinh doanh

Đối với thu nhập từ kinh doanh của hộ gia đình và cá nhân, phương pháp tính thuế khoán theo doanh thu (quy định tại Thông tư 92/2015/TT-BTC) bộc lộ nhiều hạn chế. Quy định này không xét đến chi phí thực tế và kết quả kinh doanh (lãi hay lỗ), dẫn đến tình trạng cá nhân kinh doanh thua lỗ vẫn phải nộp thuế. Điều này đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của thuế thu nhập là đánh trên phần thu nhập thực tế sau khi trừ chi phí. Thêm vào đó, việc cá nhân kinh doanh không được áp dụng giảm trừ gia cảnh cho bản thângiảm trừ người phụ thuộc đã tạo ra sự bất bình đẳng so với những người có thu nhập từ tiền lương, làm giảm tính khuyến khích đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ.

III. Phân tích sâu thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn tại Việt Nam

Một trong những lĩnh vực gây nhiều tranh luận nhất trong pháp luật thuế TNCNthu nhập từ đầu tư vốn. Theo quy định hiện hành, các khoản thu nhập như cổ tức, lợi tức nhận được từ việc góp vốn đều là thu nhập chịu thuế và áp dụng thuế suất 5%. Luận văn đã đi sâu phân tích vấn đề này, đặc biệt là quan điểm cho rằng đây là hình thức "thuế chồng thuế". Lập luận chính của các nhà đầu tư là lợi nhuận trước khi chia cổ tức đã phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), do đó việc tiếp tục đánh thuế thu nhập cá nhân trên cùng một dòng tiền là không công bằng. Tuy nhiên, nếu xét trên góc độ pháp lý, doanh nghiệp và cá nhân là hai chủ thể nộp thuế riêng biệt. Doanh nghiệp nộp thuế TNDN cho hoạt động sản xuất kinh doanh, còn cá nhân nộp thuế TNCN cho hoạt động đầu tư của mình. Hầu hết các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Canada đều áp dụng thuế trên cổ tức. Điều này cho thấy quy định của Việt Nam là phù hợp với thông lệ quốc tế. Dù vậy, việc áp một mức thuế suất thuế TNCN 5% đồng đều cho mọi hình thức đầu tư vốn mà không có sự phân biệt hay ưu đãi có thể chưa thực sự tối ưu và cần được xem xét để khuyến khích các hoạt động đầu tư dài hạn.

3.1. Quy định về cổ tức và lợi tức trong Luật Thuế TNCN

Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định rõ, thu nhập từ đầu tư vốn bao gồm cổ tức nhận từ góp vốn mua cổ phần và lợi tức nhận được khi tham gia vào công ty TNHH, hợp tác xã. Tuy nhiên, luật pháp cũng có ngoại lệ quan trọng: lợi tức của doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ không được tính vào thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn. Điều này là hợp lý vì lợi nhuận của các loại hình này gắn liền với thu nhập của chủ sở hữu, và bản thân họ đã phải thực hiện nghĩa vụ thuế qua các hình thức khác. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế cũng được quy định cụ thể, thường là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế.

3.2. Tranh cãi về thuế chồng thuế và kinh nghiệm quốc tế

Cuộc tranh luận về "thuế chồng thuế" đối với thu nhập từ cổ tức, lợi tức không chỉ diễn ra ở Việt Nam. Luận văn trích dẫn kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia phát triển vẫn duy trì sắc thuế này. Ví dụ, tại Mỹ, thuế suất trên cổ tức có thể lên tới 39.6%. Tuy nhiên, họ thường có những chính sách ưu đãi, miễn giảm phức tạp hơn, chẳng hạn như áp dụng thuế suất thấp hơn cho các khoản đầu tư dài hạn hoặc cho phép khấu trừ một phần thuế TNDN đã nộp. Đây là những kinh nghiệm quý báu để Việt Nam có thể nghiên cứu, nhằm dung hòa mục tiêu thu ngân sách và khuyến khích thị trường vốn phát triển, đảm bảo thực trạng pháp luật thuế TNCN ngày càng hoàn thiện hơn.

IV. Hướng dẫn xác định các khoản giảm trừ thuế TNCN phổ biến

Một cấu phần quan trọng của Luật Thuế TNCN là các quy định về các khoản giảm trừ, giúp đảm bảo tính công bằng và hợp lý khi xác định nghĩa vụ thuế. Đây là những khoản tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế, giúp giảm bớt gánh nặng cho người nộp thuế, đặc biệt là những người có trách nhiệm nuôi dưỡng gia đình. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định hai nhóm giảm trừ chính đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là giảm trừ gia cảnh và các khoản đóng góp bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, khuyến học, nhân đạo. Việc hiểu đúng và áp dụng đủ các khoản giảm trừ này là quyền lợi chính đáng của người nộp thuế. Đặc biệt, giảm trừ gia cảnh bao gồm hai phần: giảm trừ cho bản thân người nộp thuế và giảm trừ cho người phụ thuộc. Mức giảm trừ này được điều chỉnh theo thời gian để phù hợp với sự thay đổi của chi phí sinh hoạt. Việc kê khai và đăng ký người phụ thuộc phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về hồ sơ và thời hạn, nhằm tránh các trường hợp lạm dụng chính sách. Đây là một trong những nội dung cốt lõi mà mọi cá nhân cần nắm vững khi thực hiện quyết toán thuế TNCN hàng năm.

4.1. Quy định về giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế

Giảm trừ gia cảnh cho bản thân là khoản tiền cố định được trừ trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của mỗi cá nhân. Theo quy định tại Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14, mức giảm trừ cho bản thân là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm). Khoản giảm trừ này được áp dụng cho tất cả các cá nhân cư trúthu nhập từ tiền lương, tiền công. Đây là mức khởi điểm để xác định một cá nhân có phát sinh nghĩa vụ nộp thuế hay không. Nguyên tắc này thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước, đảm bảo người dân có đủ thu nhập để trang trải các nhu cầu sống cơ bản trước khi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách.

4.2. Cách tính giảm trừ người phụ thuộc theo quy định mới

Ngoài giảm trừ cho bản thân, người nộp thuế còn được giảm trừ người phụ thuộc. Mức giảm trừ hiện tại là 4,4 triệu đồng/người/tháng. Người phụ thuộc bao gồm con chưa thành niên, con bị khuyết tật, không có khả năng lao động; và các cá nhân khác không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng không vượt quá 1 triệu đồng mà người nộp thuế trực tiếp nuôi dưỡng (như cha mẹ đã hết tuổi lao động, vợ/chồng không có khả năng lao động). Để được hưởng khoản giảm trừ này, người nộp thuế phải đăng ký người phụ thuộc và cung cấp đầy đủ hồ sơ chứng minh theo hướng dẫn của Thông tư 111/2013/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung. Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế.

V. Giải pháp hoàn thiện chính sách về thu nhập chịu thuế TNCN

Từ việc phân tích thực trạng pháp luật thuế TNCN, luận văn của Bùi Thị Kim Thao đã đề xuất nhiều giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhằm khắc phục các bất cập còn tồn tại. Sự cần thiết của việc hoàn thiện đến từ yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mục tiêu xây dựng một hệ thống thuế công bằng, hiệu quả. Một trong những giải pháp trọng tâm là cần sửa đổi, bổ sung các quy định về thu nhập chịu thuế một cách rõ ràng và minh bạch hơn. Cụ thể, cần định nghĩa rõ các khoản phụ cấp, trợ cấp được miễn thuế để tránh việc áp dụng tùy tiện. Đối với thu nhập từ kinh doanh, cần nghiên cứu một phương pháp tính thuế linh hoạt hơn, có thể kết hợp giữa phương pháp khoán và phương pháp kê khai, cho phép khấu trừ chi phí hợp lý và áp dụng giảm trừ gia cảnh. Bên cạnh đó, việc rà soát và điều chỉnh thuế suất thuế TNCN cho phù hợp với từng loại thu nhập, đặc biệt là thu nhập từ đầu tư vốnthu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, cũng là một yêu cầu cấp thiết. Cuối cùng, việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, đơn giản hóa thủ tục quyết toán thuế TNCN sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người dân và tăng hiệu quả quản lý của nhà nước.

5.1. Sự cần thiết phải sửa đổi bổ sung Luật Thuế TNCN

Thực tiễn cho thấy Luật Thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn như Thông tư 111/2013/TT-BTC đã bộc lộ một số điểm không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc sửa đổi, bổ sung là tất yếu để giải quyết các vướng mắc, đảm bảo tính công bằng và khuyến khích các hoạt động kinh tế. Mục tiêu của việc hoàn thiện là làm cho hệ thống thuế Việt Nam tiệm cận hơn với các chuẩn mực quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập, đồng thời nuôi dưỡng nguồn thu bền vững cho NSNN. Các sửa đổi cần tập trung vào việc làm rõ phạm vi của thu nhập chịu thuế, hợp lý hóa các khoản giảm trừ, và xây dựng biểu thuế suất linh hoạt hơn.

5.2. Đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật

Luận văn đề xuất một số giải pháp cụ thể. Thứ nhất, đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, cần ban hành danh mục chi tiết các khoản phụ cấp, trợ cấp được miễn thuế hoặc xây dựng nguyên tắc chung để xác định các khoản này. Thứ hai, với thu nhập từ kinh doanh, nên cho phép cá nhân kinh doanh lựa chọn phương pháp nộp thuế theo kê khai nếu họ có đủ khả năng ghi chép sổ sách, kế toán. Thứ ba, đối với thu nhập từ đầu tư vốn, có thể xem xét áp dụng mức thuế suất khác nhau tùy thuộc vào thời gian đầu tư để khuyến khích đầu tư dài hạn. Việc bổ sung một số loại thu nhập chịu thuế mới phát sinh từ nền kinh tế số cũng là một hướng đi cần được nghiên cứu để đảm bảo công bằng và chống thất thu thuế.

04/10/2025
Thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại việt nam luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU NHẬP CHỊU THUẾ TRONG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NH N 1. Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Khái niệm thuế TNCN không được định nghĩa chính thức tại Luật thuế TNCN hoặc các Luật thuế, văn bản liên quan, Luật thuế TNCN chỉ quy định đối tượng nộp thuế cũng như thu nhập chịu thuế, từ đó có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của loại thuế này. Tuy nhiên, qua lý luận và thực tiễn, khái niệm về thuế TNCN cũng được đưa ra một cách tổng quan nhất, cụ thể là: Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là sắc thuế trực thu1 đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế.

Thuế TNCN là loại thuế trực thu, thu trực tiếp trên thu nhập nhận được từ nhiều nguồn khác nhau của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc từng lần phát sinh. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tư, vv. Nhìn chung, các định nghĩa ở trên đã góp phần bày tỏ một cách khái quát nhất các đặc điểm cơ bản của thuế TNCN. Luật thuế TNCN không đưa ra một khái niệm chung thống nhất về thuế TNCN mà chỉ định nghĩa thuế TNCN thông qua đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế, có thể nhà làm Luật dựa trên những quan điểm sau: 1Thuế trực thu (direct tax) là thuế do chính phủ đánh vào thu nhập và của cải mà hộ gia đình và doanh nghiệp nhận được hoặc n m giữ nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách.

Theo truyền thống, việc phân biệt giữa thuế trực thu và gián thu dựa trên cân nh c là ảnh hưởng của thuế và người chịu thuế có phù hợp với nhau không, nghĩa là, ai nộp thuế và ai là người chịu gánh thuế khóa (Nguyễn Văn Ngọc, 2006) 8 Thứ nhất, tên loại thuế TNCN dùng để phân biệt thuế TNCN với các loại thuế khác, bản thân “thuế TNCN” đã thể hiện được ý nghĩa của nó rằng đây là một loại thuế, và thuế này được đóng góp vào ngân sách nhà nước bởi cá nhân, để phân biệt với thuế đánh vô đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp. Nghĩa là nếu Luật đưa ra khái niệm “thuế TNCN là loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân” lại trở nên dư thừa, không cần thiết. Thứ hai, việc không đưa ra khái niệm chính thức về thuế TNCN của nhà làm Luật với hàm ý rằng đây là một khái niệm gần gũi với cá nhân, những chủ thể hiện hữu trong xã hội, không cần phải hợp pháp hóa, định nghĩa hóa một khái niệm, định nghĩa quá rõ ràng và gần gũi như vậy. Định nghĩa về một sự vật, hiện tượng chỉ nên đưa ra trong trường hợp chúng quá trừu tượng, khó hiểu và phức tạp.

Thứ ba, dường như nhà làm Luật cũng muốn nói rằng chỉ cần hiểu được đối tượng chịu thuế và thu nhập chịu thuế, người đọc và chủ thể áp dụng đã gần như hiểu và n m rõ loại thuế TNCN này. Các quan điểm có thể xảy ra ở trên của nhà làm Luật khi không đưa ra một khái niệm chính thức của thuế TNCN cũng không phải không hợp lý, tuy nhiên, đối với các chủ thể không có cơ hội tiếp cận và suy luận từ câu chữ của pháp luật để hiểu được nội dung chứa đựng của nó, thiết nghĩ Luật thuế TNCN cũng nên đưa ra một định nghĩa cơ bản về thuế TNCN trước khi đi vào định nghĩa các yếu tố cấu thành và các đặc điểm của s c thuế này. Các khái niệm không chính thống nêu ở trên về thuế TNCN tuy chưa đầy đủ nhất và khái quát nhất nhưng cũng đã phần nào phản ánh đặc điểm, nội dung cơ bản của thuế TNCN, giúp người đọc phần nào hiểu được, n m được và không bỡ ngỡ với việc tiếp cận một trong những s c thuế quan trọng của pháp luật Việt Nam hiện tại này. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu do người chịu thuế cũng chính là người nộp thuế và không thể chuyển gánh nặng thuế cho người khác.

Sở dĩ được gọi là thuế trực thu vì các cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác, là loại thuế đánh trực tiếp vào từng cá nhân riêng biệt, nói cách 9 khác người sở hữu thu nhập chịu thuế khiến giảm phần thu nhập của họ, ở đây không xảy ra hiện tượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu. Mặt khác, vì là thuế trực thu nên phần đóng góp về thuế thường phù hợp với khả năng của từng đối tượng, có tính phân loại đối tượng. Đó cũng là lý do mà thuế TNCN có tính công bằng hơn các loại thuế gián thu2. Thứ hai, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan hầu hết đến mọi cá nhân trong xã hội.

Tính nhạy cảm cũng là một trong những hạn chế của thuế TNCN. Vì liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế nên hiển nhiên thuế TNCN mang tính nhạy cảm cao, bản thân người nộp thuế sẽ tự động có xu hướng không công khai minh bạch hoàn toàn thu nhập của mình. Điều này xuất phát từ lí do là thu nhập và lợi nhuận càng cao thì phải nộp thuế càng nhiều, thuế TNCN do đó rất dễ bị phản ứng và cũng hạn chế phần nào sự cố g ng tăng thu nhập của các đối tượng chịu thuế. Ngoài ra, các cá nhân trong xã hội không phân biệt giàu nghèo, địa vị, tầng lớp đều có thể thuộc đối tượng chịu thuế TNCN, tính nhạy cảm vì thế phát sinh trên loại thuế này.

Hay nói cách khác, những gì thuộc về cá nhân, đặc biệt là thu nhập, là nguồn sống của cá nhân là vấn đề hết sức nhạy cảm và dẫn đến việc chia sẻ thông tin về thu nhập của cá nhân với người khác trở nên hiếm hoi trên thực tế. Thứ ba, thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó chuyển động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng những dịch vụ Nhà nước cung ứng. Thứ tư, thuế TNCN thường mang tính chất lũy tiến cao.

Vì thuế thu nhập cá nhânđánh theo nguyên t c khả năng trả thuế và thuế suất của nó thường được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế. 2Thuế gián thu (indirect tax) là khoản thuế mà chính phủ đánh vào hàng hóa và dịch vụ để tạo nguồn thu và sử dụng làm công cụ cho chính sách tài chính. Nhìn chung, mọi người đều cho rằng thuế gián thu là loại thuế có thể chuyển cho người khác, nghĩa là nó không giới hạn phạm vi ảnh hưởng ở người bị đánh thuế. Những ví dụ về thuế gián thu là thuế hàng hóa, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu (Nguyễn Văn Ngọc, 2006) 10 Cụ thể hơn, đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người với thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội.

vì vậy, việc sử dụng thuế suất có tính chất lũy tiến sẽ đáp ứng được yêu cầu nêu trên vì thu nhập càng cao thì sẽ buộc phải tính với thuế suất cao tương ứng3. Có thể nói, việc thuế TNCN được xây dựng trên nguyên t c lũy tiến là cả một quá trình đúc kết, kết hợp hài hòa giữa tính khoa học, nghệ thuật và chính trị của mỗi quốc gia. Bởi vì rõ ràng, để đảm bảo được tính công bằng, các quốc gia phải xây dựng một biểu thuế hết sức công phu, không ngừng đáp ứng tính cập nhật trong sự phát triển kinh tế thông qua thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, từ ngưỡng thu nhập chịu thuế đến khoảng cách giữa các mức thu nhập và lựa chọn mức thuế suất thích hợp cho từng khoảng cách thu nhập chịu thuế. Bên cạnh đó, khác hẳn với các loại thuế gián thu và thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế TNCN có tính tất yếu g n liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia cho dù quốc gia đó có mục tiêu xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế theo mục tiêu trung lập không nhằm vào quá nhiều các mục tiêu khác nhau.

Điều này được thể hiện cụ thể thông qua việc có chú trọng đến gia cảnh của người chịu thuế, các khoản chi trả bảo hiểm, các khoản đóng góp nhân đạo,. Thông qua các quy định giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người chịu thuế và những người phụ thuộc, giảm trừ các khoản chi phí bảo hiểm đã đóng góp cho các quỹ bảo hiểm b t buộc và các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện có đủ điều kiện, giảm trừ các khoản đóng góp nhân đạo. C c quy định giảm trừ thể hiện nguyên t c công bằng theo chiều dọc trong đều tiết thu nhập của người dân mặt khác còn tạo nên sự đồng thuận của xã hội nói chung khi áp dụng Luật thuế. Tuy nhiên, chính vì việc tập trung soạn thảo Luật thuế 3Lê Quang Cường & Nguyễn Kim Quyên (2015), cho rằng “Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về mức độ tối ưu của tính luỹ tiến.

Một số nhà kinh tế học đi theo nguyên bản của thuế lũy tiến hiện đại theo Adam Smith, ông đã viết tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia. Giải thích theo nghĩa “người nghèo chi phí rất lớn cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Người nghèo gặp khó khăn khi mua thực phẩm nhiều hơn so với thu nhập eo hẹp của họ. Các nhu cầu xa xỉ và cao cấp được đài thọ từ khoản chi phí cơ bản của người giàu.

Nó thật sự bất hợp lý khi mà người giàu sẽ đóng góp cho chi tiêu công không tỷ lệ với thu nhập của họ ngoại trừ một số thứ họ đóng góp nhiều hơn so với tỷ lệ đó”””. 11 TNCN nhằm quan tâm đếm hoàn cảnh của từng cá nhân nộp thuế đã khiến cho Luật thuế TNCN nhất là Luật thuế tại các nước phát triển trở thành Luật thuế phức tạp nhất trong các Luật thuế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ