Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Sinh khối giàu lignocellulose từ nguồn phụ phẩm nông - lâm nghiệp tại Việt Nam 1.1 Nguồn Gốc Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa với một số ngành chủ lực kinh tế, trong đó có nông nghiệp mặc dù nhiều diện tích đất nông nghiệp được chuyển thành đất công nghiệp nhưng dản lượng về nông nghiệp ngày càng ra tăng đóng góp không nhỏ vào GDP của cả nước. Bên cạnh đó hằng năm lượng phế thải dư thừa trong quá trình chế biến các sản phẩm nông sản, thực phẩm rất lớn và đa dạng về chủng loại. Đó cũng là nỗi lo về các bãi chứa, đe dọa ô nhiễm môi trường với những địa phương có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp. Trước kia người dân thường tái sử dụng những phụ phẩm này như ủ phân hữu cơ, làm thức ăn chăn nuôi nhưng bây giờ rất ít phụ phẩm được tái sử dụng còn lại thường được đốt trực tiếp gây ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe người dân và giao thông gần đó.
Còn đối với Lâm nghiệp hằng năm hệ sinh thái rừng cho ra cả triệu tấn phụ phẩm và còn cả các ngành khai thác gỗ hằng năm cũng cho ra một lượng lớn phụ phẩm gỗ. Các phú phẩm trên được gọi chung là vật liệu giàu lignocellulose thải. Xét về nguồn gốc thành phần, có thể phân biệt các loại lignocellulose như: từ cây gỗ cứng, gỗ mềm cũng như từ cây trồng hàng năm (đặc biệt là cây lúa, ngũ cốc, các loại cỏ, cây mía.) và thân cây thảo. 4 Bảng 2[44]: Sinh khối lignocellulose từ phế phẩm nông - lâm nghiệp tại Việt Nam.
Từ những thống kê các nguồn chính ở bảng trên cho thấy hằng năm tổng lượng lignocellulose được thải ra môi trường là rất lớn. Rơm rạ là nguồn sinh khối chính chiếm khoảng 54,4%. Các nguồn sinh khối khác tuy ít hơn nhưng rất đáng kể. Lignocellulose là một phức hợp polyme thành tế bào ở thực vật, chiếm 60% tổng sinh khối thực vật trên trái đất, bao gồm các thành phần chính là các polymer carbohydrate (cellulose, hemicellulose) và một polymer thơm (lignin), trong đó cellulose và hemicellulose chiếm tỉ lệ cao.
Cellulose chiếm phần lớn, khoảng từ 40% - 50%, còn hai hợp chất hemicellulose và lignin lần lượt chiếm khoảng 20 - 35% và 10 - 25% khối lượng khô của cơ thể thực vật (bảng 2).2 Thành phần Lignocellulose là thành phần chính của thực vật thân gỗ và các thực vật khác như cỏ, lúa, ngô… gồm 3 hợp phần chính là cellulose, hemicellulose và lignin. Cả 3 hợp phần này cùng nhau tạo nên cấu trúc có độ bền cao của thực vật. 5 Lignocellulose là một cơ chất phức hợp bao gồm các polysaccharide, các polyme có gốc phenol và protein. Các thành phần của lignocellulose tạo thành một dạng cấu trúc gọi là vi sợi (microfibril).1 [7]: Cấu tạo của lignocelluloe.2 [8]: Mặt cắt vi sợi lignocellulose.
6 Cellulose Cellulose có công thức cấu tạo là (C6H10O5)n , là polysaccharide phổ biến nhất có mặt chủ yếu trong thành tế bào thực vật giúp cho các mô thực vật có độ bền cơ học và tính đàn hồi. Cellulose bao gồm các đơn vị D-glucose liên kết ß-1,4 tạo thành chuỗi polyme tuyến tính gồm khoảng 8000 - 12 000 đơn vị glucose. Các mạch cellulose được liên kết với nhau bằng liên kết hydro và liên kết Van der Waals, hình thành hai vùng cấu trúc chính là kết tinh và vô định hình. Trong vùng kết tinh, các phân tử cellulose liêt kết chặt chẽ với nhau, vùng này khó bị tấn công bởi các enzyme và hóa chất.
Ngược lại, trong vùng vô định hình các cellulose liên kết không chặt chẽ với nhau nên dễ bị tấn công. Cellulose không tan trong nước và dung môi hữu cơ nhưng tan trong dung dịch Schweitzer, tan trong dung dịch kẽm chlorid đậm đặc, Trong tự nhiên, cellulose có nhiều trong bông, đay, tre, nứa, gỗ,… Cellulose cũng là nguồn sinh khối cho nấm phân hủy để cung cấp carbon cho sự phát triển của chúng. Ngoài ra cellulose còn được ứng dụng rất nhiều vào ngành công nghiệp may mặc, giấy, dệt may, dược phẩm. Hemicellulose Hemicellulose là các polysaccharide không đồng nhất bao gồm các đơn vị đường khác nhau, là polysaccharide phổ biến thứ hai trong thành tế bào thực vật.
Hemicellulose thường được phân loại theo thành phần chính của đường có trong mạch polymer. Xylan, loại polymer hemicellulose dồi dào nhất trong ngũ cốc và gỗ cứng, được cấu tạo bởi các đơn vị D-xylose liên kết ß-1,4 trong mạch chính và có thể được thay thế bởi D-galactose, L-arabinose, glucuronic acid, acetyl, feruloyl và p-coumaroyl [3]. Hai hemicellulose chính khác trong thành tế bào thực vật là galacto(gluco)mannan, bao gồm một mạch chính của D-mannose có liên kết ß-1,4 (mannans) và D-glucose (glucomannans) với chuỗi bên D-galactose và xyloglucans 7 bao gồm một mạch chính D-glucose liên kết ß-1,4 được thay thế bằng D-xylose [3]. Hơn nữa, trong polyme xyloglucan, L-arabinose và D-galactose có thể được gắn vào xyloza và L-fucose có thể được gắn vào galactose.
Do có nhiều nhóm có khả năng gắn vào mạch chính như vậy, nên polymer này có độ phức tạp và biến đổi cấu trúc cao. Hemicellulose được ứng dụng làm màng gel trong bao bì, màng phủ thực phẩm. Lignin Lignin là một polymer phenolic tạo nên độ bền chắc của thành tế bào thực vật. Lignin là một polymer phân nhánh phức tạp rất khó tan gồm các đơn vị phenylpropane, được liên kết với nhau bằng liên kết ether và carbon-carbon, tạo thành một mạng lưới liên kết chéo rộng rãi trong thành tế bào.
Liên kết chéo giữa các polyme khác nhau tạo nên sự phức tạp và độ cứng của thành tế bào thực vật, chịu trách nhiệm bảo vệ toàn bộ tế bào thực vật. Ngoài việc bảo vệ chống lại lực cơ học và ly giải thẩm thấu, thành tế bào thực vật là một hàng rào hiệu quả chống lại mầm bệnh, bao gồm vi sinh vật. Trong tự nhiên lignin chủ yếu đóng vai trò chất liên kết trong thành tế bào thực vật, liên kết chặt chẽ với mạng cellulose và hemicellulose.2 Giới thiệu về nấm Giới nấm là nhóm sinh vật nhân thực dị dưỡng với thành tế bào cấu tao bởi kitin (chitin) là một giới riêng biệt rất lớn với khoảng 1,5 triệu loài, Nấm có nguồn gốc hoàn toàn khác biệt so với những sinh vật có hình thái tương tự như nấm nhầy (Myxomycetes) hay Mốc nước (Oomycetes). Chúng sinh sống và phát triển chủ yếu trong đất, chất mùm, xác sinh vật chết, cộng sinh và ký sinh trên cơ thể động, thực vật và nấm khác.
Phần lớn Nấm phát triển dưới dạng sợi đa bào được gọi là sợi nấm (hyphae) tạo nên hệ sợi (mycelium), một số loài lại phát triển theo dạng đơn bào. Quá trình sinh sản (hữu tính hoặc vô tính) của nấm thường qua bào tử, được tạo nên 8 trên các cấu trúc đặc biệt hay quả thể. Một số loài lại mất khả năng tạo nên những cấu trúc sinh sản đặc biệt và nhân lên qua hình thức sinh sản sinh dưỡng. Những đại diên tiêu biểu của nấm là nấm men, nấm mốc, nấm lớn (nấm quả thể).
Trên thực tế nấm có mối quan hệ gần với động vật hơn thực vật, cho dù thế nếu không tìm hiểu kỹ thì rất dễ lầm tưởng nấm là một nhánh của thực vật học. Nấm được sử dụng rộng rãi trong đời sống lẫn sản xuất nhiều loài được ứng dụng trong công nghệ thực phẩm, làm thức ăn. Một số loài nấm còn được sủ dụng trong việc sản xuất kháng sinh trong y học và còn sản xuất cả nhiều loại enzyme nhưng một số loài nấm lại có độc với con người và động vật hoặc mang mầm bệnh cho cây trồng. Nấm phân bố trên toàn thế giới và phát triển ở nhiều dạng môi trường khác nhau.
Đa phần là ở trên cạn nhưng một số loài lại chỉ tìm thấy ở môi trường nước. Nấm và vi khuẩn là những sinh vật phân hủy chính có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái trên cạn (có thể dưới nước), bởi vậy chúng có vai trò quan trọng trong chu trình sinh địa hóa ở nhiều lưới thức ăn. Dựa theo tỷ lệ ước lượng giữa thực vật và nấm người ta ước tính nấm có khoảng 1,5 triệu loài, trong đó hơn 70000 loài nấm đã được các nhà khoa học phát hiện, miêu tả tuy nhiên trong giới nấm vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn chưa được khám phá. Nấm không có diệp lục, sống hoại sinh và không có khả năng sử dụng trực tiếp các chất sinh dưỡng nhưng lại tiết ra các enzyme vào môi trường xung quanh để phân hủy các phân tử phức tạp thành các chất hòa tan để nấm có thể hấp thu được .Trong số đó các loài nấm sợi có khả năng tiết ra enzyme có khả năng phân hủy tốt.
Đó là phân giới Dikarya – nấm bậc cao, bao gồm hai ngành là Ascomycota – nấm túi và Basidiomycota – nấm đảm. Cả hai ngành này đều có nhân kép, chúng có thể có dạng sợi hoặc đơn bào nhưng không có lông roi. Khi sống hoại sinh hay cộng 9 sinh nấm sẽ phân hủy những chất hữu cơ thành các phân tử vô cơ rồi những chất này sẽ được đồng hóa ở thực vật hay các sinh vật khác.1 Nấm đảm Basidiomycota Basidiomycota, đa phần những loài nấm lớn đều thuộc ngành này. Nấm đảm sản xuất ra những bào tử hình dùi gọi là đảm.
Hệ sợi nấm của nấm đảm rất phát triển, sợi nấm có vách ngăn ngang chưa hoàn chỉnh có thể sinh sản hữu tính và vô tính. Sinh sản vô tính bằng bào tử dính, sinh sản hữu tính bằng bảo tử đảm được hình thành ngoài đảm. Tùy theo cách hình thành đảm và vách ngăn mà phân chia các loại đảm: - Đảm đơn bào (hay đảm không vách) gặp ở phần lớn các nấm đảm. (hay đảm có vách ngăn ngang hoặc vách ngăn dọc) Phân loại: Dựa vào đặc điểm của đảm, một số tác giả chia lớp nấm thành 3 phân lớp - Phân lớp đảm đơn bào (Holobasidiomycetidae) - Phân lớp đảm đa bào.3: Nấm Coprinellus disseminatus một loài nấm thuộc chi Coprinellus và thuộc ngành Bacidiomycota.2 Nấm túi Ascomycota Là nhóm phân loại đông nhất trong Eumycota (nấm thật).
Chúng tạo ra những bào tử giảm phân gọi là bào tử nang, được chứa trong một cấu trúc đặc biệt có dạng giống túi gọi là (ascus). Ngành này bao gồm Nấm nhăn (moscela), một số loài Nấm lớn và nấm cục, nấm men đơn bào và nhiều nấm sợi sống hoại sinh và cộng sinh. Nhiều loài nấm nang chỉ trải qua qua trính sinh sản vô tính (ở nấm gọi là anamorph). Tuy nhiên, nhờ những dữ liệu phân tử đã giúp nhận dạng được những giai đoạn hữu tính (teleomorph) gần nhất của chúng ở nấm nang.
Bởi những sản phẩm của quá 11 trình giảm phân được chứa trong nang nấm, nên một số loài nấm nang (như Neurospora crassa) được sủ dụng trong ngành di truyền học.