MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Nói đến hoa là nói đến cái đẹp. Hoa mang trong mình màu sắc đa dạng, hình dáng hài hòa, mùi hương quyến rũ. Hoa xuất hiện trong các dịp lễ hội, trong những ngày tết, hoa làm tăng thêm niềm vui, xoa đi nỗi buồn, hoa đem lại cho con người những cảm xúc tuyệt vời mà các quà tặng khác không có được. Hoa là nguồn cảm hứng bất tận, hoa được ví như một phép nhuộm màu để tô thêm cho thiên nhiên hùng vĩ của con người trở nên thơ mộng và lung linh hơn.
Chính vì vậy, từ xưa đến nay hoa đã chiếm được một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi con người. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống con người, nền kinh tế - xã hội, nhu cầu về hoa trên thế giới và trong nước đã và đang tăng lên rõ rệt. Hoa tươi trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao, chiếm một vị trí quan trọng trên thị trường (Bùi Văn Quyết, 2015). Hoa hồng là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất trên thế giới.
Hoa hồng có kích thước lớn, màu sắc đẹp mắt, hương thơm dịu dàng và được xem là “Hoàng hậu của các loài hoa”. Cây hoa hồng là loại hoa được trồng phổ biến nhất ở nước ta hiện nay và đang có xu thế phát triển mạnh, là một trong những loại cây đem lại hiệu quả kinh tế khá cao trong nghề sản xuất hoa (Đào Thanh Vân, 2007). Hoa hồng là một sản phẩm hoa ôn đới mang lại giá trị thẩm mỹ và tinh thần cao, nhu cầu cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu hoa tươi ngày càng lớn. Việc sử dụng hoa tươi nói chung và hoa hồng nói riêng hiện nay đã trở thành tập quán thường nhật không chỉ đối với người dân ở các vùng đô thị mà ngay cả trong vùng nông thôn, nhu cầu và thú chơi hoa cũng đã tăng lên rất nhiều.
Việc sử dụng hoa tươi trong các ngày lễ hội, ngày cưới, ngày tết … ở các vùng nông thôn cũng rất được nhiều người quan tâm và trú trọng (Phạm Đình Thụy, 2010). 2 Trong những năm gần đây, nhu cầu chơi hoa trồng chậu của người dân là rất lớn. Tuy nhiên kỹ thuật trồng hoa nói chung và trồng hoa hồng trong chậu nói riêng ít được quan tâm và nghiên cứu chuyên sâu. Trong khi đó nguồn phế phẩm từ nông nghiệp của nước ta rất đa dạng như: trấu, xơ dừa, rơm, rạ, … là nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc sản xuất giá thể hữu cơ với chi phí thấp, sẵn có tại nơi sản xuất.
Giá thể hữu cơ là nguồn nguyên liệu hữu cơ, chứa các chất dinh dưỡng và có khả năng giữ nước để nuôi cây trồng. Loại giá thể này được coi như một loại đất sạch nhân tạo giàu chất dinh dưỡng có thể giúp người dân từ vùng đô thị ít đất đến những nơi đất đai cằn cỗi, đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn đều có thể trồng hoa trong chậu và đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562,82 km² phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Tỉnh Thái Nguyên trung bình cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km.
Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi phía Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc giao lưu đã được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút. Vì vậy, đây là thị trường lớn về số lượng và chủng loại hoa (Bùi Văn Quyết, 2015). Hiện nay trong sản xuất đã có rất nhiều giống hoa hồng nhập nội từ các nước trên thế giới để đáp ứng thị hiếu ngày càng cao của thị trường, trong đó có giống Bishop’s Castle (Rosa ‘Bishop's Castle’).
Để phát triển sản suất hoa hồng trồng chậu ở Thái Nguyên nói chung và cả nước nói riêng, một trong những giải pháp quan trọng nhất là lựa chọn được giá thể thích hợp dựa trên 3 những nguyên liệu phế phẩm nông nghiệp giá thành thấp, có sẵn tại chỗ. Việc lựa chọn được giá thể phù hợp sẽ góp phần xây dựng quy trình công nghệ sản xuất hoa hồng trồng chậu, nâng cao giá trị kinh tế, giá trị thẩm mỹ và chất lượng của hoa hồng trồng chậu nói riêng và hoa trồng chậu nói chung. Từ những yêu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm và lựa chọn giá thể trồng chậu cho giống hoa hồng nhập nội Bishop’s Castle tại Thái Nguyên”. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2.
Mục đích - Xác định được nền giá thể thích hợp nhất cho giống cây hoa hồng nhập nội Bishop’s Castle để cây sinh trưởng và phát triển tốt tại địa bàn Thái Nguyên, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất cho giống nghiên cứu. Yêu cầu - Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của hoa hồng nhập nội Bishop’s Castle trên các nền giá thể khác nhau. - Đánh giá được khả năng chống chịu sâu bệnh hại hoa hồng nhập nội Bishop’s Castle trên các nền giá thể khác nhau. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để xác định được giá thể thích hợp nhất với cây hồng nhập nội Bishop’s Castle để cây sinh trưởng và phát triển tốt, nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất trong chậu cho giống nghiên cứu. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho nhà nghiên cứu, sinh viên, cán bộ nông nghiệp và người sản xuất tại Tỉnh Thái Nguyên và khu vực truy cứu và tham khảo. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho các địa phương, doanh nghiệp, hộ gia đình khi sản xuất hoa hồng nhập nội trồng chậu nhờ áp dụng quy trình kỹ thuật trồng hoa hồng Bishop’s Castle trên nền giá thể phù hợp nhất. - Giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng và kỹ thuật chăm sóc cây trồng, biết được phương pháp thu thập số liệu, xử lí số liệu, và cách viết một báo cáo nghiên cứu khoa học.
5 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài Cây cần oxi và dinh dưỡng tiếp xúc với rễ cây. Do đó yêu cầu đối với giá thể là loại có khả năng giữ nước cũng như độ thoáng khí phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó. Trong đất xét và đất thịt có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều oxi.
Ngược lại, cát và sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh. Giá thể trồng cây cần đảm bảo khả năng giữ nước cũng như thoáng khí, có pH phù hợp cho từng loại cây và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường. Giá thể có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu nhỏ), đá trân châu…Các loại này có thể được dùng đơn lẻ hoặc được phối trộn với nhau để tận dụng ưu điểm từng loại. Vì vậy, trồng cây trong giá thể dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc.
Giá thể được sử dụng trong những khay, chậu. Khay, chậu có thể là gỗ, đất nung, sành sứ, hoặc plastic …tùy vào điều kiện và sở thích mà người trồng có thể lựa chọn loại khay, chậu phù hợp. Mỗi loại cây trồng yêu cầu về đất, dinh dưỡng, điều kiện ngoại cảnh, chế độ chăm sóc khác nhau nên việc nghiên cứu giá thể là hết sức cần thiết (Bùi Văn Quyết, 2015). Đây là giống hoa hồng mới được nhập nội về Việt Nam, được chủ yếu trồng trong chậu tại các hộ gia đình khu đô thị.
Theo đánh giá sơ bộ ban đầu, đây là giống hoa được nhiều người ưa chuộng do hoa có màu sắc hấp dẫn, cây sinh trưởng khỏe và ra nhiều đợt hoa trong năm. Tuy nhiên, hiện nay các cơ sở sản xuất và người dân chủ yếu sản xuất theo phương thức truyền 6 thống, chưa có quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc giống hoa mới này. Do đó, năng suất và chất lượng giống hoa này còn hạn chế. Do vậy, việc thử nghiệm các loại giá thể trồng trong chậu cho giống hoa này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hoàn thiện quy trình sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và độ bền hoa, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người trồng hoa tại địa bàn nghiên cứu.
Nguồn gốc hoa hồng và đặc điểmthực vật học 2. Nguồn gốc hoa hồng Người ta cho rằng hoa hồng có nguồn gốc từ tầm xuân - có từ Kỷ Đệ Tam cách đây 3,5 - 7 triệu năm, chủ yếu phân bố ở các vùng đại lục ôn đới Bắc bán cầu. Riêng loại ra hoa 4 mùa có khởi nguyên ở vùng á nhiệt đới. Trải qua sự biến đổi lâu dài trong tự nhiên và sự chọn lọc của con người, tầm xuân đã biến thành hoa hồng cổ đại.
Hoa hồng trồng hiện nay có nguồn gốc rất phức tạp, nó là kết quả tạp giao của tầm xuân (Rosa multiflora) với mai khôi (Rosa rugosa) và hoa hồng (Rosa indica) (Đặng Văn Đông và cộng sự, 2002). Mai khôi (Rosa rugosa): có nguồn gốc ở Trung Quốc, hiện còn rất nhiều cây hoang dại. Mai khôi là loại cây thân gỗ rụng lá, cao tới 2 m, thân dạng bò, màu nâu tro, trên thân có một lớp lông nhung và có gai. Lá kép lông chim, có 5 - 9 lá nhỏ, hình thuôn hoặc hình trứng dài 2 - 5 cm, mép lá có răng cưa, mặt trên không có gai, mặt dưới có lông gai.
Hoa mọc thành chùm màu trắng hoặc đỏ tím, đường kính 6 - 8 cm, có chứa tinh dầu, mùi thơm, thông thường mỗi năm hoa ra một lần vào tháng 5 hoặc tháng 6, cũng có khi ra thêm một đợt vào tháng 7, tháng 8. Quả hình cầu dẹt, màu đỏ gạch (Đặng Văn Đông và cộng sự, 2002).