Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu sơ lược về cây hoa hồng 1. Đặc điểm thực vật học 1. Rễ Cây hoa hồng được tạo ra từ quá trình nhân giống vô tính có rễ chùm, phân bố chủ yếu trên tầng đất mặt và phát triển mạnh theo chiều ngang.
Khi bộ rễ hoa hồng phát triển tương đối hoàn chỉnh thì phát sinh nhiều rễ phụ (Đào Thanh Vân va Đặng Thị Tố Nga, 2007). Thân Thân cây hoa hồng thuộc nhóm cây thân gỗ nhỏ hoặc cây bụi thấp, thang, có nhiều cành và gai nhọn, cong (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Dựa vào đặc điểm thân, hoa hồng được chia làm 3 loại chính: thân bụi, thân leo và hoa hồng thân gỗ. Lá Lá cây hoa hồng thuộc lá kép lông chim lẻ.
Lá mọc cách, có lá kèm nhẫn ở sát cuống lá. Trên mỗi lá kép có từ 3 — 9 lá chét. Mép của các lá chét có thé có nhiều răng cưa nhỏ. Tùy giống mà lá có màu sắc xanh đậm hay xanh nhạt, răng cưa nông hay sâu, hay có hình dạng lá khác (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).
Hoa Hoa hồng có nhiều màu sắc và kích thước khác nhau. Hoa hồng có mùi thơm nhẹ, cánh hoa mềm dễ bị dập nát và gãy. Cụm hoa chủ yếu có một hoa hay một tập hợp ít hoa trên cuống dài, cứng, có gai. Hoa lớn có cành dài hợp thành chén ở gốc, xếp thành một hay nhiều vòng, xiết chặt hay lỏng tùy giống.
Hoa hồng thuộc loại hoa lưỡng tính. Nhị đực và nhụy cái trên cùng một hoa. Các nhị đực dính vào nhau xung quanh vòi nhụy. Khi phấn chín rơi trên đầu nhụy nên có thê tự thụ phấn.
Đài hoa có màu xanh (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Điều kiện sinh thái 1. Nhiệt độ Nhiệt độ cho hoa hồng sinh trưởng và phát triển là từ 18 — 25°C vì hoa hồng là cây có nguồn gốc ôn đới. Nhiệt độ tối cao trên 35°C sẽ làm ảnh hưởng đến sự kéo dài cành, độ bền hoa.
Nhiệt độ tối thấp dưới 8°C làm cho cây thấp, cành nhánh phát sinh yếu, lá giòn, nụ hoa dé bị thui chột hay nở muộn, nở không đều do cây không khai thác được dinh dưỡng trong đất và không khí (Nguyễn Thị Kim Lý và ctv, 2012). Độ 4m Cây hoa hồng yêu cầu độ âm không khí từ 80 — 85%. Độ âm trong đất khoảng 60 — 70%. Cây hoa hồng có bộ tán và lá rậm rạp nên diện tích phát tán hơi nước trong đất rất lớn.
Kiểm soát được độ ẩm thích hợp, chiều dài cành sẽ tăng trung bình là 8,2% (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Mùa hè nhiệt độ cao, mưa nhiều làm phát sinh rất nhiều bệnh trên cây hoa hồng. Dé kiểm soát độ âm cho cây hoa hồng, cần chú ý đến yếu tố thời tiết và thời gian chiếu sáng. Việc tưới nước cho hoa hồng chỉ nên tưới vào ban ngày nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh, phát triển bệnh.
Vào giai đoạn ra hoa nếu độ âm không khí cao sẽ làm cho cây, hoa, lá và bộ rễ bị thối (Đỗ Đình Thục, 2009). Ánh sáng Hoa hồng là cây ưa sáng, ánh sáng đầy đủ giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt. Nếu thiếu ánh sáng cây sẽ bị tiêu hao chất dự trữ trong cây. Khi cây còn nhỏ, yêu cầu về cường độ ánh sáng thấp hơn, khi cây lớn yêu cầu về ánh sáng nhiều hơn (Đào Thị Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).
Cường độ chiếu sáng thích hợp cho hoa hồng là 40. Cường độ chiếu sáng ảnh hưởng đến số cành, sự phát dục hoa, số lượng hoa, sản lượng (Nguyễn Thị Kim Lý và ctv, 2012). Giá thé Đất hoặc giá thể phải có nhiều lỗ hồng. Trong đó, tỷ lệ không khí ở tầng đưới 30 cm phải đạt trên 20%, tỷ lệ không khí ở tầng trên 20 em phải đạt mức 17% mới phù hợp yêu cầu.
Trong điều kiện thoáng khí, rễ cây thành thục có màu vàng nâu, rễ non màu trắng. Trong khi nếu giá thể không thoáng khí rễ bị đen, rất ít rễ mới rễ thường bị nứt nẻ, dễ nhiễm bệnh (Đặng Văn Đông và ctv, 2002). Khi trồng hoa hong trị số EC nên thấp hơn 0,6 mS/cm, giai đoạn thu hoa từ 0,9 — 1,0 mS/cm là thích hợp. Hoa hồng ưa đất hơi chua, độ pH từ 5,5 — 6,5 là thích hợp nhất, pH từ 7,0 — 8,0 cây sinh trưởng yếu ớt (Đặng Văn Đông va ctv, 2002).
Theo Đặng Văn Đông và ctv (2002) với cách trồng truyền thống thì hoa hồng trồng chậu có thé dùng các công thức giá thé sau: - _ Công thức 1: 50% than bùn + 30% xỉ lò + 20% mun rom - _ Công thức 2: 50% than bùn + 20% cát sông +30% sỏi nhỏ - _ Công thức 3: 30% than bùn + 20% cát sông + 30% trau hun - Cong thức 4: 50% than bùn + 50% cát sông 1. Dinh dưỡng Trong các nguyên tô dinh dưỡng cần thiết cho cây không thé không nhắc đến ba nguyên tố đa lượng quan trọng, đó là đạm, lân và kali với tỷ lệ cân đối giúp cây hoa hồng sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng hoa đạt yêu cau. Tỷ lệ N: P: K thích hợp cho cây hoa hồng sinh trưởng và phát triển bình thường là 18: §: 17 (Phạm Thị Minh Tâm, 2017). Cây hoa hồng cần nhiều đạm (N) vào thời kỳ sinh trưởng, phát sinh cành nhánh cho đến lúc phân hóa mầm hoa cũng như góp phần ảnh hưởng đến kích thước, mau sắc của hoa.
Dam chiếm 1 — 2% trọng lượng chất khô của cây. Hoa hồng cần 15 — 25 mg N/100 g chất khô. Urea là nguồn cung cấp đạm hiệu quả nhất cho cây hoa hồng, và nên hạn chế sử dụng đạm ở dạng Nitrat amon và muối sulphat (Đào Thanh Vân và Dang Thị Tố Nga, 2007). Cây hoa hồng chủ yếu cần lân vào thời kì hình thành nụ cho đến khi ra hoa.
Lân có tác dụng thúc đây sự sinh trưởng của rễ, hoa, quả và hạt. Lân chiếm 1 — 1,4% trọng lượng chất khô của cây. Hoa hồng cần 20 — 50 mg PO; và không quá 100 mg PO; /100 g đất khô (Đào Thanh Vân và Dang Thị Tố Nga, 2007). Cây hoa hồng cần nhiều kali vào thời kỳ hình thành nụ, hoa, quả và hạt.
Kali thường tập trung ở các bộ phận non và những bộ phận hấp phụ (mầm, chóp rễ). Kali chiếm 1,8 — 3,6% khối lượng chất khô của cây (cao gấp 1,8 lần so với dam). Hoa hồng cần 20 — 30 mg K;ạO/100 g đất khô. Nên bón kali nitrat hoặc kali sulphat, không nên bón kali clorua (Đào Thị Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007).
Nhân giống hoa hồng bằng biện pháp giâm cành Hoa hồng được nhân giống phố biến bằng biện pháp giâm cành, chiết cành, ghép mắt hoặc có thể nuôi cấy mô, nhưng nhân giống hoa hồng bằng biện pháp giâm cành là đơn giản và phố biến nhất (Anderson va ctv, 1999; Costa và ctv, 2017). Phương pháp giâm cành Phương pháp giâm cành là cắt đoạn cành đủ tiêu chuẩn nhân giống ở cây mẹ, gọi là hom giống. Sau đó, hom giống được trồng vào một giá thể khác đề phát triển thành một cây hoàn chỉnh. Giâm cành được áp dụng khi nhân giống các gốc ghép và các giống hoa hồng nhỏ.
Thời vụ thích hợp dé giâm cành là vụ xuân từ tháng 2 — 4 và vụ thu vào tháng 8 — 10 vì cành giâm nhanh ra rễ và ty lệ sống cao. Thời gian từ khi giâm cành đến khi ra hoa trung bình là 8 tháng (Nguyễn Thi Kim Ly va ctv, 2012). Ưu điểm của phương pháp giâm cành Theo Nguyễn Kim Lý và ctv (2012), ưu điểm của phương pháp giâm cành như sau: - So với chiết cành, ghép cành thì giâm cành có hệ số nhân giống cao - Cây con giữ được đặc tính di truyền của cây mẹ - Cây sinh trưởng phát triển tốt, phân nhiều cành 1. Nhược điểm của phương pháp giâm cành Bên cạnh những ưu điểm, theo Nguyễn Kim Lý và ctv (2012) cũng có những được diém: - Giai đoạn đầu dé bị nhiễm bệnh từ các tác nhân tiềm ẩn trong đất - Thời gian cho hoa ngắn và sản lượng hoa thấp hơn so với cây ghép - Đối với một số giống hoa hồng khó ra rễ yêu cầu kỹ thuật khắt khe hơn phương pháp ghép.
Auxin và vai trò của auxin trong nhân giống bằng biện pháp giâm cành Để kích thích cho ra rễ nhanh, nhiều, tăng tỷ lệ sống và chất lượng cây, người ta thường sử dụng các loại auxin như: IBA, NAA (Dang Văn Đông va ctv, 2002). Theo Bùi Minh Trí (2021) vai trò của auxin được mô tả như sau: Auxin là phytohormone đầu tiên trong cây được cha con nha Darwin ghi nhận được từ thế kỷ 19 và đến đầu thế kỷ 20 (1928) đã được nhận diện hóa học, đó chính là acid B-indol axetic (IAA). Con người đã tổng hợp rất nhiều các chất có bản chất hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA gọi là là auxin tổng hợp. Những auxin được sử dụng rộng rãi trong sản xuất đó là IBA, a-NAA, 24D.
Các tác động của auxin ở mức độ tế bào Auxin có tác động trong quá trình phân chia tế bào, kích thích quá trình phân bào, đặc biệt là kích thích quá trình phân bào ở tế bào tượng tầng. Quá trình này cần có sự kết hợp với Cytokinin. Các tác động của auxin ở qui mô cơ quan, cơ thể Auxin có tác dụng phát động quá trình hình thành rễ. Auxin có vai trò trong việc phân hóa tế bào tượng tầng để phân chia và phân hóa.
Từ đó, các rễ mới được hình thành. Auxin còn tương tác với các chất điều hòa sinh trưởng khác để hình thành ra các rễ sơ cap, rễ bên hoặc là các tế bào lông hút. Auxin ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển lá. Toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của lá đều có sự tham gia của auxin.
Auxin cần thiết cho quá trình phát triển mầm lá, tham gia vào quá trình phân hóa dé phan định mặt trên, mặt dưới lá. Auxin còn liên quan đến quá trình phân chia tế bào và tăng kích thước tế bào làm cho lá phát triển, tăng kích thước. Auxin đóng vai trò trong van dé tao ra sự phân hóa các tế bào, hình thành mạng lưới gân lá. Lá hoàn chỉnh được hình thành.
Ung dụng thực tiễn của Auxin Auxin được sử dung dé thúc day sự ra rễ thông qua các quá trình nhân giống vô tính như giâm cành, chiết cành, ghép cây, nuôi cây mô. Các auxin sử dụng cho ứng dụng này là IAA, IBA, NAA, IBA + NAA, Chlorinated phenoxy acids.