Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thù lao tài chính trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng thù lao tài chính cho nhân viên văn phòng tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ Phân phối EGAME Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện thù lao tài chính cho nhân viên văn phòng tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ Phân phối EGAME 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÙ LAO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Thù lao lao động Trong cơ chế kinh tế thị trƣờng, quan hệ thuê mƣớn lao động đƣợc thực hiện trên cơ sở hợp đồng lao động kí kết giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Mọi điều khoản hai bên kí kết phải phù hợp với Bộ Luật lao động.
Trong các điều khoản đó có các quy định về việc doanh nghiệp thực hiện chế độ thù lao lao động đối với ngƣời lao động. Thù lao lao động là "phần" ngƣời lao động nhận đƣợc do họ tham gia vào quá trình lao động của doanh nghiệp; thù lao lao động thƣờng đƣợc biểu hiện ở thu nhập dƣới các hình thức tiền lƣơng và tiền thƣởng, và các lợi ích phi tài chính. Còn có thể hiểu, thù lao lao động là tất cả các khoản mang tính chất tài chính và phi tài chính mà ngƣời lao động nhận đƣợc thông qua mối quan hệ thuê mƣớn giữa họ với tổ chức. Về nguyên tắc, thù lao lao động chỉ đƣợc trả khi công việc đã hoàn thành.
Ở các nƣớc phát triển ngƣời ta dùng khái niệm trả công lao động (hay thù lao lao động) để chỉ các giá trị vật chất và phi vật chất mà ngƣời lao động nhận đƣợc trong quá trình làm thuê. Theo Đỗ Thị Tƣơi (2018), “Thù lao lao động là tất cả những lợi ích mà ngƣời lao động nhận đƣợc thông qua mối quan hệ làm việc giữa họ với tổ chức”. Có thể tiếp cận kết cấu thù lao lao động theo nhiều cách khác nhàu nhƣ Thù lao gián tiếp và thù lao trực tiếp; Thù lao cơ bản, khuyến khích tài chính 7 và phúc lợi; Thù lao tài chính và thù lao phi tài chính. Luận văn tiếp cận kết cấu thù lao lao động gồm thù lao tài chính và thù lao phi tài chính.
Thù lao tài chính Theo Nguyễn Quốc Tuấn (2006), thù lao tài chính còn đƣợc gọi là thù lao vật chất, bao gồm: Thù lao vật chất trực tiếp nhƣ lƣơng công nhật, lƣơng tháng, tiền hoa hồng và tiền thƣởng. Thù lao vật chất gián tiếp bao gồm chính sách mà Công ty áp dụng nhƣ: Bảo hiểm nhân thọ, y tế, các loại trợ cấp xã hội; các loại phúc lợi bao gồm các kế hoạch về hƣu, an sinh xã hội, đền bù cho công nhân làm việc trong môi trƣờng độc hại, làm việc thay ca, làm việc ngoài giờ làm việc vào ngày nghỉ lễ…; các trợ cấp giáo dục, trả lƣơng trong trƣờng hợp vắng mặt vì nghỉ hè, nghỉ lễ, ốm đau, thai sản… [10] Theo Đỗ Thị Tƣơi (2018), "Thù lao tài chính là tất cả các lợi ích tài chính mà NLĐ nhận đƣợc thông qua mối quan hệ thuê mƣớn giữ họ và tổ chức. Nó bao gồm các khoản nhƣ lƣơng cơ bản, phụ cấp lƣơng, tiền thƣởng, hoa hồng, phân chia năng suất, lợi nhuận, bảo hiểm, trợ cấp xã hội, phúc lợi tài chính. Trong đó, lƣơng cơ bản là nền tảng của hệ thống thù lao" [4].
Nhƣ vậy, theo quan điểm này thù lao tài chính bao gồm các khoản tiền lƣơng và phụ cấp lƣơng; các khoản tiền thƣởng/khuyến khích tài chính và các khoản phúc lợi tài chính. Thù lao tài chính là các khoản lợi ích vật chất thể hiện bằng tiền mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ doanh nghiệp. Các khoản này bao gồm tiền lƣơng (tiền công) và phụ cấp lƣơng, tiền thƣởng và các phúc lợi tài chính mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ việc hao phí sức lao động của mình cho doanh nghiệp. Cơ cấu thù lao lao tài chính có thể đƣợc tiếp cận theo 3 thành phần: thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các phúc lợi tài chính.
Trong phạm vi 8 luận văn này, tác giả tiếp cận thù lao tài chính theo 3 thành phần: Tiền lƣơng, khuyến khích tài chính và phúc lợi tài chính.3 Nhân viên văn phòng Nhân viên văn phòng theo định nghĩa của học viên là những ngƣời làm việc tại văn phòng, giữ chức vụ nhân viên của phòng ban cụ thể trong doanh nghiệp, ví dụ nhƣ nhân viên hành chính nhân sự, nhân viên kế toán, nhân viên kinh doanh… Một nhân viên văn phòng luôn luôn bận rộn đôi khi phải làm khá nhiều công việc cùng một lúc không giống nhƣ nhiều ngƣời thƣờng nghĩ. Điều này càng thấy rõ hơn ở các công ty hay doanh nghiệp lớn. Nhân viên văn phòng giỏi là phải có đầy đủ các kỹ năng nghiệp vụ, cũng nhƣ chuyên môn thì mới có thể giải quyết công việc tốt nhất. Trong bài luận văn này, học viên sử dụng thuật ngữ nhân viên văn phòng cho những ngƣời lao động đang làm việc thuộc các phòng ban chức năng (phòng tổ chức hành chính, phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng thiết kế) của Công ty, những ngƣời lao động không nắm giữ vai trò, chức vụ lãnh đạo quản lý.
Nội dung thù lao tài chính trong doanh nghiệp 1. Tiền lương Trong quan hệ lao động, tiền lƣơng là nội dung các bên đặc biệt quan tâm, quyết định đến sự ổn định, bền vững của quan hệ lao động. Từ góc độ kinh tế, tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là khoản tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động khi hoàn thành công việc theo thoả thuận. Với ngƣời sử dụng lao động, tiền lƣơng là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất, cấu thành nến chi phí sản xuất, vì vậy ngƣời sử dụng lao động cần cân đối nhằm đạt đƣợc mục tiêu lợi nhuận trong hoạt động đầu tƣ, sản xuất, kinh doanh.
Với ngƣời lao động, tiền lƣơng là thù lao, là khoản bù đắp hao phí sức lao động mà họ nhận đƣợc trong quá trình 9 tham gia lao động, sản xuất. Đƣơng nhiên, trong tƣơng quan về lợi ích giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động, tiền lƣơng vừa có sự mâu thuẫn, vừa có sự thống nhất và đòi hỏi sự điều chỉnh của pháp luật ở những giới hạn nhất định. Theo Công ƣớc Bảo vệ Tiền lƣơng của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), quy định Điều 1 thuật ngữ “tiền lương” là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm. Tiền lương được trả một cách đều đặn, trừ phi đã có sự dàn xếp thích hợp khác để bảo đảm trả lương vào những định kỳ đều đặn, những định kỳ để trả lương sẽ do pháp luật hoặc quy định quốc gia ấn định, hoặc do một thoả ước tập thể hay một phán quyết của trọng tài ấn định.
Khi hợp đồng lao động kết thúc, việc thanh toán dứt điểm toàn bộ tiền lương phải trả sẽ được thực hiện theo pháp luật hoặc quy định quốc gia, thoả ước tập thể, hay phán quyết của trọng tài; nếu không có như vậy, thì phải được thực hiện trong một thời hạn vừa phải, theo những điều khoản của hợp đồng.“ [12] Theo Điều 90 Bộ luật Lao động 2019, "Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thoả thuận" và "Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc". Theo cách hiểu này, tiền lƣơng có thể đƣợc trả dựa trên kết quả thực hiện công việc, theo vị trí chức danh công việc. [11] 10 Theo Đỗ Thị Tƣơi & Đoàn Thị Yến (2020), Tiền lƣơng là giá cả sức lao động, đƣợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động (hoặc đại diện của chủ sử dụng lao động) và ngƣời lao động, là số tiền mà chủ sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động khi ngƣời lao động thực hiện một công việc nhất định và đảm bảo đúng quy định của pháp luật.] Tiền lƣơng là công cụ quan trọng trong thù lao tài chính. Tiền lƣơng trong doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp trả cho ngƣời lao động khi ngƣời lao động thực hiện công việc.
Cách tính trả lƣơng cần thiết kế phù hợp gắn với vị trí công việc đảm nhận, kết quả làm việc và năng lực của ngƣời lao động. Tùy theo từng đối tƣợng, nhóm đối tƣợng cụ thể, doanh nghiệp xác định phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền lƣơng của doanh nghiệp với đối tƣợng đó. Tiền lƣơng là một trong các công cụ tạo động lực lao động, nếu thiết kế hệ thống lƣơng phù hợp thì tiền lƣơng có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả làm việc, đồng thời tiền lƣơng mang tính cạnh tranh, tăng vị thế của doanh nghiệp và thu hút đƣợc lao động giỏi về cống hiến cho doanh nghiệp. Ngƣợc lại, nếu hệ thống tiền lƣơng không phù hợp sẽ không tạo đƣợc động lực cho ngƣời lao động, không khai thác đƣợc tiềm năng và không giữ chân đƣợc ngƣời lao động.
Có 2 hình thức trả lƣơng phổ biến là trả lƣơng theo sản phẩm và trả lƣơng theo thời gian. [5] * Hình thức trả lƣơng sản phẩm Hình thức trả lƣơng sản phẩm là hình thức trả lƣơng căn cứ vào đơn giá tiền lƣơng trên một đơn vị sản phẩm hay một chi tiết công việc và sản lƣợng thực tế (thể hiện bằng số lƣợng và chất lƣợng sản phẩm) do ngƣời lao động/ nhóm ngƣời lao động hoàn thành. 11 Hình thức trả lƣơng sản phẩm áp dụng chủ yếu đối với công nhân trực tiếp sản xuất trong các doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể áp dụng trả lƣơng sản phẩm cho nhân viên kinh doanh, hoặc một số công đơn việc mà kết quả lao động có thể cân, đo, điểm đƣợc (định mức, định lƣợng đƣợc).
Hình thức trả lƣơng sản phẩm cũng đƣợc áp dụng đối với công nhân phụ, mà kết quả hoạt động của công nhân phụ có ảnh hƣởng trực tiếp đến năng suất lao động của công nhân chính.