CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ 1. Một số khái niệm a. Khái niệm đầu tư Hoạt động đầu tư rất phong phú nên có nhiều cách hiểu thuật ngữ đầu tư.
Theo quan điểm nhà kinh tế học P.A Samuelson (1989) thì đầu tư là hoạt động tạo ra tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của DN như máy móc, thiết bị, nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư có thể dưới dạng vô hình như đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh… Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai”, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư. Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư (2005) định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các loại hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [10]. Khái niệm này cho thấy đầu tư chỉ là việc bỏ vốn để hình thành tài sản mà không cho thấy được kết quả đầu tư sẽ thu được lợi ích kinh tế như thế nào.
Như vậy, có thể nói đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi hoạt động đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải bỏ ra khi đầu tư. Khái niệm vốn đầu tư Vốn là một nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế, nhưng cũng như các nguồn lực khác vốn có giới hạn nhưng có nhiều cách sử dụng và có nhiều kết quả. Trong quá trình phát triển, huy động, khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả luôn là vấn đề lớn không dễ giải quyết.
Huy động vốn, đảm bảo nguồn vốn, duy trì nguồn cung cấp vốn không làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ vĩ mô khác. Vốn dưới góc độ kinh tế phát triển khác với ý nghĩa thông thường, theo nghĩa thông thường vốn là giá trị mang lại lợi ích theo thời gian. Trong kinh tế phát triển, vốn được hiểu dưới dạng vật chất – vốn sản xuất mà bao gồm máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng, cầu đường … Vốn sản xuất được hình thành nhờ các dự án đầu tư thực hiện và nguồn để thực hiện các dự án đầu tư chính là vốn đầu tư [3]. Nói một cách khác, vốn đầu tư là những chi phí bằng tiền nhằm tạo lập tài sản mới hoặc bù đắp những tài sản đã tiêu hao trong quá trình sử dụng và duy trì dự trữ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất với quy mô ngày càng tăng.
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, vốn đầu tư cho hoạt động kinh tế rất lớn và đa dạng. Vốn đầu tư không chỉ tạo lập tài sản trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà còn bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng, các công trình công cộng phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Vốn đầu tư không chỉ tạo lập những tài sản tồn tại dưới trạng thái vật chất hay hữu hình, như máy móc, thiết bị, công trình kiến trúc, nguyên vật liệu… mà còn dưới dạng phi vật chất hay vô hình như các phát minh, sáng chế, các giải pháp hữu ích. Ngoài ra, vốn đầu tư còn tạo lập các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi… Như vậy, “Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản Luan van 11 xuất, kinh doanh, dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn vốn khác đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo năng lực mới nền kinh tế - xã hội”.
Khái niệm thu hút vốn đầu tư Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Thu hút vốn đầu tư bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường… nhằm thu hút các nhà đầu tư vốn, khoa học công nghệ… để sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được một mục tiêu nhất định. Huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội của một vùng là hoạt động nhắm tới việc khai thác, thu hút các nguồn vốn đưa vào sử dụng trong quá trình đầu tư nhằm đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của một vùng. Quá trình huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng chịu tác động bởi một số nhân tố chủ yếu như: Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, điều kiện tự nhiên - xã hội của vùng, chiến lược phát triển vùng và cơ chế, chính sách đầu tư đối với vùng, vai trò của các cấp chính quyền.
Ngoài ra còn chịu tác động của các yếu tố thuộc về quốc gia như: sự ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính - tiền tệ, tích lũy - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư, sự phát triển củạ hệ thống thị trường tài chính. Vốn đầu tư phát triển cho vùng được khai thác từ các nguồn bên trong/nguồn vốn tại chỗ và nguồn vốn bên ngoài của vùng: - Khai thác nguồn vốn tại chỗ đó là khai thác nguồn ngân sách các địa phương trong vùng bao gồm các nguồn thu từ tiền chuyển quyền sử dụng đất, tiền thuế khai thác tài nguyên.; nguồn vốn đầu tư từ khu vực doanh nghiệp và dân cư trong vùng. Luan van 12 - Thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào vùng gồm: Ngân sách trung ương, vốn tín dụng nhà nước, vốn khu vực doanh nghiệp và dân cư ngoài vùng, vốn nước ngoài tài trợ phát triển hoặc đầu tư kinh doanh. Thu hút vốn đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên tác động của nó cũng là gián tiếp, nó không trực tiếp tiến hành đầu tư mà nó thu hút các nguồn tích lũy trong nền kinh tế tạo thành vốn đầu tư, vốn đầu tư là yếu tố quan trọng cho việc thực hiện hoạt động đầu tư làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Nếu không có hoạt động thu hút vốn thì nguồn tích lũy trong nền kinh tế không được đưa vào sử dụng, điều này dẫn đến tình trạng không có nguồn vốn đầu tư tái sản xuất xã hội và tất yếu là nền kinh tế sẽ không tăng trưởng. Mặt khác nếu không có hoạt động thu hút vốn thì việc tạo lập vốn đầu tư sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, vì vậy thu hút vốn đầu tư là cơ sở cho tạo lập và là điều kiện cho sử dụng vốn đầu tư. Khái niệm Nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi.
Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo Luan van 13 nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa.
Các loại vốn đầu tư a. Vốn đầu tư trong nước Nguồn vốn trong nước là vốn đầu tư phát triển từ NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn của khu vực DN tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế. Nguồn vốn này thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nó có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài.
Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước Nguồn vốn trong nước là vốn đầu tư phát triển từ NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn của khu vực DN tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế. Nguồn vốn này thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nó có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài. Đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư.
Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Với vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định điều điều tiết vĩ mô, vốn tư NSNN đã được nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi quốc gia. Trong thực tế điều hành chính sách tài khoá, Nhà nước có thể quyết định tăng, giảm thuế, quy mô thu chi ngân sách nhắm tác động vào nền kinh tế.