CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH 1.1 Một số khái niệm Khái niệm về Đầu tư Để hiểu rõ khái niệm thu hút vốn đầu tư đầu tiên cần hiểu rõ khái niệm đầu tư và vốn đầu tư. Vì theo nghĩa thông thường và trong kinh tế học nội hàm của đầu tư khác nhau và do vậy vốn đầu tư cũng khác. Trước hết hãy bắt đầu từ quan điểm của các nhà kinh tế học. Theo quan điểm cùa nhà kinh tế học P.A Samuelson (1989), thì Đầu tư là hoạt động tạo ra vốn sản xuất của nền kinh tế như các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho.
Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh… Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là việc từ bỏ tiêu dùng hôm nay để tăng sản lượng cho tương lai, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư. Theo quan điềm của Mankiw, NG (2000), Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận. Do đó, đầu tư theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty mua sắm một tài sản nói chung hay mua một tài sản nói riêng. Tuy nhiên, khái niệm này tập trung chủ yếu vào đầu tư tạo them tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một khoản lợi Luan van 8 nhuận trong tương lai.
“Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó có quyền mua để được hưởng các khoản lợi ích trong tương lai mà người đó hy vọng có được qua việc bán sản phẩm mà tài sản đó tạo ra”. Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái vật chất là tăng them tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra. Còn theo luật đầu tư (2005), “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”. Khái niệm này cho thấy đầu tư chỉ là việc bỏ vốn để hình thành tài sản mà không cho thấy được kết quả đầu tư sẽ thu được lợi ích kinh tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư.
Theo Bùi Quang Bình (2010), đầu tư là hoạt động mua sắm trang bị hàng hóa đầu tư để thức hiện các dự án nhằm hình thành vốn sản xuất của các tổ chức doanh nghiệp nhằm sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cho nhu cầu xã hội. Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của hoạt đọng đầu tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư của một quốc gia, vùng, miền. Đồng thời dựa vào khái niệm này để nhận diện hoạt động đầu tư, tức là căn cứ vào đó để thấy hoạt động nào là đầu tư, hoạt động nào không phải đầu tư theo những phạm vi xem xét cụ thể. Từ khái niệm đầu tư ta có thể rút ra một số đặc điểm của đầu tư như sau: - Hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau và thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện.
Các nguồn lực để đầu tư có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác… thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, tư nhân, nước ngoài… - Đầu tư cần phải xác định trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều tháng, nhiều năm…). Tuy nhiên, thời gian càng dài thì mức độ rủi ro càng cao Luan van 9 bởi vì nền kinh tế luôn thay đổi, lạm phát có thể xảy ra… cũng như các nguyên nhân chủ quan khác có ảnh hưởng đến đầu tư. - Mục đích của đầu tư là sinh lời trên cả 2 mặt: Lợi ích về tài chính - thông qua lợi nhuận gắn liền với quyền lợi của chủ đầu tư, và lợi ích về mặt xã hội – thông qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội hay cộng đồng. Vốn đầu tư Từ nghiên cứu đầu tư ở trên có thể thấy hoạt động đầu tư phải sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau và do tính phức tạp nếu sử dụng nhiều đơn vị khác nhau để tính toán.
Đề giải quyết điều này người ta sử dụng tiền tệ để đo lường và tính toán. Từ đây có khái niệm về vốn đầu tư. Vốn đầu tư là giá trị bằng tiền của các nguồn lực được huy động và sử dụng vào thực hiện đầu tư qua đó hình thành vốn sản xuất của nền kinh tế. Từ có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư và vốn đầu tư với nhau, mà thực chất là mối quan hệ giữa nguồn lực đầu tư hiện vật và giá trị.
Do vậy nhiều khi người ta vẫn sử dụng khái niệm đầu tư và vốn đầu tư như nhau nếu xét ở góc độ sản phẩm cuối cùng của chúng. Để thu hút đầu tư chúng ta sẽ xem xét kỹ những vấn đề dưới đây.2 Phân loại đầu tư có thể thu hút Căn cứ vào tính chất đầu tư mà người ta chia đầu tư ra làm 2 loại, đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Ù Đầu tư trực tiếp Theo Luật đầu tư (2005), đầu tư trực tiếp là hình thức do nhà đầu tư bỏ cốn đầu tư và tham gia hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư có thể là Chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư cho xã hội, điều này thể hiện chi tiêu của Chính phủ thông qua đầu tư các công trình, chính sách xã hội.
Ngoài ta, người đầu tư có thể là tư nhân, tập Luan van 10 thể… kể cả các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà các chủ thể tham gia thể hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quá trình đầu tư. Ù Đầu tư gián tiếp Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư – Luật đầu tư (2005). Như vậy, đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà trong đó người bỏ vốn ra và sử dụng vốn không cùng một chủ thể.
Đầu tư gián tiếp thông thường thông qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư trên thị trường chứng khoán. Giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có quan hệ chặt chẽ trong quá trình thực hiện đầu tư. Đầu tư trực tiếp là tiền đề phát triển đầu tư gián tiếp, điều này thể hiện thông qua nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng hay các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp để huy động vốn. Mặt khác, môi trường đầu tư gián tiếp được mở rộng sẽ thúc đẩy việc đầu tư trực tiếp với mong đợi tiếp cận với các nguồn vốn được dễ dàng.
Bởi vì một khi thị trường tài chính phát triển thì nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn các nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn thấp, và cũng có thể sử dụng lợi thế này làm gia tăng đòn bẩy tài chính để thực hiện ý đồ kinh doanh của mình.3 Các nguồn vốn đầu tư có thể thu hút Muốn thực hiện công cuộc đầu tư cần có các nguồn lực đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khoản tiền cần có để trang trải cho các nguồn lực đầu vào gọi là vốn đầu tư. Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số của cải mà cá nhân và tổ chức trong xã hội đã làm ra, sau khi đã trừ đi phần tiêu dùng của họ. Luan van 11 Để có chính sách thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bền vững, cần phân loại nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn.
Ở góc độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia là 2 nguồn: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư trong nước Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn Nhà nước, vốn tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế.
Mặc dù trong thời đại này nay, các đồng vốn nước ngoài ngày càng trở nên đặc biệt không thể thiếu được đối với các nước đang phát triển, nhưng nguồn vốn tiết kiệm từ trong nước vẫn giữ vai trò quyết đinh. Các nước Đông Á trong những năm 1960 mức tiết kiệm đạt được chỉ 10% hoặc ít hơn và đã vay nhiều thị trường quốc tế, thế nhưng đến những năm 1990 tiết kiệm của các nước này cao hơn đáng kể, bình quân đạt 30%. Có thể nói, tiết kiệm luôn ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng, nhất là ở những nước đang phát triển vì làm tăng vốn đầu tư. Hơn nữa tiết kiệm đó là điều kiện cần thiết để hấp thụ vốn nước ngoài có hiệu quả, đồng thời giảm được sức ép về phía ngân hàng Trung ương trong việc hàng năm phải cung ứng thêm tiền để tiêu hóa ngoại tệ.