mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bài khóa luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về FDI và thu hút FDI vào các KCN Chƣơng II: Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2018- quý II/2021 Chƣơng III: Định hƣớng và một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 5 CHƢƠNG I: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Bản chất và vai trò của thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN trên địa bàn cấp tỉnh 1. Một số khái niệm liên quan đến thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN a) Khái niệm khu công nghiệp Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018 của Chính phủ, KCN đƣợc định nghĩa: “Khu công nghiệp đƣợc hiểu là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định”. Theo điều 3, khoản 20, Luật Đầu tƣ 2005, “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ”.
Từ đó ta có thể hiểu: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong đó, các doanh nghiệp là đơn vị đóng vai trò chủ đạo trung tâm thực hiện nhiệm vụ sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp”. b) Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Cùng với xu hƣớng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đã và đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Theo đó đã có nhiều quan điểm đƣa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), 1993: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là hoạt động dầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mỗi quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ, mục đích của chủ đầu tƣ là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.
Định nghĩa này nhấn mạnh đến khía cạnh hoạt động đầu tƣ của FDI. Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thƣơng Mại và Phát triển (UNCTAD): “FDI bao gồm vốn đƣợc cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà Đầu tƣ nƣớc ngoài cho các doanh nghiệp hoặc vốn mà nhà Đầu tƣ nƣớc ngoài nhận đƣợc từ doanh nghiệp mà họ đầu tƣ ở nƣớc ngoài”. Định nghĩa này nhấn mạnh đến khía cạnh vốn đầu tƣ ở nƣớc ngoài của FDI. 6 Theo quan điểm của Hoa Kỳ - một trong những nƣớc tiến hành đầu tƣ và tiếp nhận đầu tƣ lớn nhất thế giới cho rằng: “FDI là bất kì dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nƣớc đi đầu tƣ có đƣợc từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của DN nƣớc ngoài”.
Theo Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 2005, tại điều 2 có nêu: “Đầu tƣ trực tiếp là hình thức đầu tƣ dó nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ; Đầu tƣ nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tƣ.” Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu một cách khái quát về FDI nhƣ sau: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tƣ ở một nƣớc khác đƣa vốn vằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để đƣợc quyền sở hữu và quản lý hay quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình. Hoạt động FDI đƣợc thông qua đƣợc gọi là dự án FDI.” c) Khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN là một hình thức đầu tƣ, trong đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ toàn bộ hay một phần vốn đầu tƣ đủ lớn nhằm giành quyền quản lý, kiểm soát hoặc tham gia quản lý kiểm soát doanh nghiệp ở nƣớc chủ nhà, mà các doanh nghiệp này là trung tâm thực hiện nhiệm vụ sản xuất công nghệ và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp, nằm trong KCN khu vực có danh giới địa lý xác định. Trong đó, nƣớc kêu gọi đầu tƣ sử dụng các cách thức, biện pháp, chính sách để nƣớc ngoài đầu tƣ vào nƣớc mình. Chúng ta có thể hiểu thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là quá trình thực hiện đồng bộ các biện pháp, chính sách các cơ quan chức năng nhằm tạo nên một môi trƣờng kinh doanh có tính hấp dẫn đối với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tƣ của các nhà đầu tƣ vào các KCN thông qua các hình thức đầu tƣ nhƣ một phần hay toàn bộ vốn đầu tƣ đủ lớn nhằm giành quyền quản lý, kiểm soát hoặc tham gia quản lý, kiểm soát doanh nghiệp ở nƣớc chủ nhà.
Đặc điểm của thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN - Thứ nhất, mục đích hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận, hoạt động kinh doanh đạt được lợi nhuận cao nhất có thể. Trong khi các hình thức đầu tƣ gián tiếp thu đƣợc lợi tức tài chính ổn định, nguồn thu của nhà đầu tƣ hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tƣ vốn, vì vậy thu nhập mà chủ đầu tƣ nhận đƣợc là thu nhập từ kinh doanh và kém ổn định hơn. Xét về mặt tích cực, nhà đầu tƣ đƣợc tự chủ 7 hoàn toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, toàn quyền ra quyết định về tài chính và chịu trách nhiệm lãi, lỗ với khoản đầu tƣ. Đó chính là động lực thúc đẩy các nhà đầu tƣ tập trung đƣa ra những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và cũng là lý do các dự án FDI thƣờng đạt đƣợc hiệu quả kinh doanh cao hơn so với các hình thức đầu tƣ khác.
- Thứ hai, FDI không để lại gánh nặng nợ nần cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư. Khi thực hiện hình thức FDI, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu dài ở nƣớc sở tại, hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tƣ. Nƣớc tiếp nhận FDI không phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo của ngƣời cung ứng vốn nhƣ tiếp nhận ODA hay các hành thức đầu tƣ nƣớc ngoài khác nhƣ vay thƣơng mại, viện trợ không hoàn lại,… Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tƣơng đối ít rủi ro cho nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Đây là điều mà nhiều nƣớc đang phát triển và chậm phát triển rất quan tâm vì khả năng trả nợ của họ thƣờng là yếu kém.
- Thứ ba, FDI không đơn thuần chỉ là vốn mà kèm theo đó là công nghệ kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới mở ra thị trường cho nước tiếp nhận đầu tư. Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI. Các nƣớc đang phát triển thƣờng có trình độ KH&CN thấp, lạc hậu. Để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nƣớc công nghệ phát triển thì những nƣớc này cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới, tiên tiến.
Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nƣớc có cách đi riêng để nâng cao trình độ công nghệ của mình, thông qua FDI là cách tiếp cận nhanh, trực tiếp, thuận lợi. Đồng thời, FDI mang tới cho quốc gia tiếp nhận những công nghệ mới, góp phần tạo lập các lĩnh vực và ngành nghề mới. Sự phát triển của khu vực FDI trong một số ngành, lĩnh vực nhất định sẽ trực tiếp làm thay đổi cơ cấu kinh tế và có tác động lâu dài đến mức độ phát triển của quốc gia tiếp nhận vốn đầu tƣ. - Thứ tư, FDI thường đi kèm với việc chuyển giao công nghệ cho quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Khi thực hiện hoạt động Đầu tƣ nƣớc ngoài, bên cạnh vốn bằng tiền và các tài sản hữu hình nhƣ máy móc, thiết bị, bất động sản…, nhà đầu tƣ còn mang theo quy trình công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, các phát minh sáng chế, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý đến nƣớc chủ nhà. Đây là một trong những điểm trọng yếu mà các nƣớc nơi có địa phƣơng tiếp nhận vốn đầu tƣ thƣờng hƣớng tới khi kêu gọi thu hút vốn FDI. Vai trò của thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các KCN - Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các KCN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH và tạo điều kiện cho KCN có tốc độ phát triển năng động nhất. FDI góp phần quan trọng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tƣ kinh doanh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, duy trì đà tăng trƣởng xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp; thúc đẩy chuyển giao công nghệ…Bên cạnh đó, FDI tác động tích cực với sự phát triến của khu cực tƣ nhân trong nƣớc từ đó nâng cao thế và lực của Việt Nam.
- Thu hút vốn đầu tư FDI vào các KCN giúp phát triển toàn xã hội và là động lực tăng trưởng kinh tế. Số liệu tính đến năm 2018, các ngành nghề thu hút FDI cao là công nghệ (69,4%)tổng vốn đầu tƣ đăng kí, dịch vụ là 29,6% và nông – lâm – ngƣ nghiệp là 1%. Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp FDI đang giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu của Việt Nam trong suốt thời gian qua liên tục đạt cao gấp 2-3 lần khu vực đoanh nghiệp trong nƣớc. (Văn Thị Thái Thu, 2019) - Thu hút vốn FDI vào KCN làm thay đổi cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH ở các địa phương.
Điển hình tại Bình Dƣơng, sau hơn 20 năm tái lập, tăng trƣởng kinh tế của tỉnh là 14,5% trong đó nguồn vốn FDI đóng góp vị trí quan trọng.