MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Quá trình sản xuất công nghiệp trong các thập kỷ vừa qua đã có những biến đổi hết sức sâu sắc và rõ rệt với trình độ phân công lao động quốc tế và phân chia quá trình sản xuất đã đạt đến mức rất cao. Các sản phẩm công nghiệp hầu hết không còn đƣợc sản xuất trọn bộ tại một địa điểm mà đƣợc đƣợc phân chia thành nhiều công đoạn ở các châu lục, các quốc gia, các địa phƣơng khác nhau. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ra đời nhƣ là một cách tiếp cận sản xuất công nghiệp mới với nội dung cơ bản là việc chuyên môn hóa sâu sắc các công đoạn của quá trình sản xuất.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ giúp các ngành sản xuất chủ động đƣợc nguồn nguyên vật liệu đầu vào, chủ động lựa chọn nhà cung cấp, cắt giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh. Công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn đƣợc chiến lƣợc phát triển phù hợp với chuỗi giá trị gia tăng của ngành trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế. Ngoài ra, phát triển công nghiệp hỗ trợ còn tạo cơ hội và thúc đẩy khối doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh mẽ tạo nên mạng sản xuất kinh doanh đa dạng và rộng khắp. Đây chính là nền tảng để phát triển một nền công nghiệp tự chủ và hiện đại.
Với những lý do đó phát triển công nghiệp hỗ trợ trở thành một nhiệm vụ cấp bách để tái cấu trúc nền công nghiệp phù hợp với điều kiện mới1. Ở Việt Nam, trong 25 năm qua, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển dịch từ một nền kinh tế đóng theo cơ chế tập trung sang một nền kinh tế mở với định hƣớng thị trƣờng; bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tƣ phát triển; bù đắp thâm hụt thƣơng mại, cải thiện cán cân thanh toán; là động lực phát triển công nghiệp, tăng trƣởng xuất khẩu và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; góp phần tăng cƣờng 1 Hoàng Văn Châu (2010), Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt nam đến năm 2020 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy cạnh tranh nội bộ nền kinh tế2. Mặc dù đạt đƣợc nhiều thành tựu, tuy nhiên một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chỉ xây dựng nhà máy, cơ sở sản xuất để hoàn thành giai đoạn cuối tại nƣớc ta. Do CNHT nô ̣i điạ kém phát tri ển nên doanh nghiệp lắp ráp có vốn FDI, với yêu cầu chất lƣợng sản phẩm cao, tuy rất muốn tăng tỷ lệ nội địa hoá để giảm giá thành sản xuất nhƣng ít tìm đƣợc nguồn cung cấp công nghiệp hỗ trợ đáng tin cậy.
Theo điều tra của JETRO, có tới 72% các nhà sản xuất nƣớc ngoài đầu tƣ vào Việt Nam nói rằng họ có kế hoạch tăng tỷ lệ nội địa hoá nguyên phụ liệu, linh kiện nhƣng “lực bất tòng tâm”. Họ phải nhập từ các nƣớc khác trong khu vực nhƣ Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… Chỉ có khoảng 23,6% (thấp thứ hai sau Philippines) nhà đầu tƣ Nhật Bản có thể dựa vào nguồn cung trong nƣớc về các sản phẩm linh phụ kiện, trong khi đó mức trung bình của khu vực là 40%. Ngoài ra, vấn đề liên kết giữa các doanh nghiệp hỗ trợ trong nƣớc với doanh nghiệp lắp ráp cũng nhƣ doanh nghiệp hỗ trợ nội địa với doanh nghiệp hỗ trợ có vốn FDI còn rất lỏng lẻo và yếu kém. Có thể thấy rằng,Việt Nam chƣa có hành lang pháp lý và môi trƣờng thuận lợi để thúc đẩy thu hút FDI cho phát triển công nghiệp hỗ trợ.Vẫn còn có những quan điểm trái ngƣợc nhau về vai trò của FDI đối với sự phát triển CNHT, có quan điểm đánh giá cao vai trò thúc đẩy CNHT của FDI nhƣng cũng có những cách nhìn trái chiều khi chỉ nhìn những mặt trái của FDI đối với CNHT.
Trên thực tế, các chính sách phát triển CNHT còn chung chung, chƣa có những chính sách hỗ trợ, thúc đẩy thu hút dòng vốn FDI vào CNHT. Chính điều này đã hạn chế sự phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cũng nhƣ những tác động lan tỏa tới những ngành khác trong nền kinh tế.Tuy nhiên, những điều đó cũng cho thấy tiềm năng thu hút FDI cho phát triển CNHT còn rất lớn và nếu đƣợc đầu tƣ phát triển sẽ trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam. 2 Thuyết trình của phó thủ tƣớng Hoàng Trung Hải tại hội nghị của Liên hợp quốc về Thƣơng mại và Phát triển, (UNCTAD) chủ trì. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tất cả những điều trên đòi hỏi có một công trình nghiên cứu nhằm chỉ rõ và phân tích thấu đáo vềthu hút nguồn vốn FDI cho CNHT, từ đó đƣa ra những giải pháp thúc đẩy thu hút FDI cho phát triển CNHT tại Việt Nam.Đó là những vấn đề đƣợc giải quyết trong luận án“Thu hút FDI cho phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam“.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Trong những năm gần đây, nguồn vốn FDI và công nghiệp hỗ trợ là chủ đề đƣợc nhiều học giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu. Các nghiên cứu chủ yếu nhìn công nghiệp hỗ trợ ở góc độ phê phán những điều kiện khó khăn, yếu kém. Trong các nghiên cứu này thƣờng có một phần hoặc ít nhiều đề cập đến việc thu hút nguồn vốn FDI để phát triển ngành công nghiệp nhƣng nội dung về cách thức thu hút FDI để phát triển công nghiệp hỗ trợ không phải là trọng tâm của các nghiên cứu. Các nghiên cứu ngoài nước: Khái niệm đáng chú ý nhất hiện nay ở ngoài nƣớc về FDI đƣợc phát triển bởi sự phối hợp giữa tổ chức OECD (1996, 2009) và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993).
Theo đó, FDI là đầu tƣ vƣợt ra ngoài biên giới quốc gia của một nhà đầu tƣ với mục tiêu thiết lập mối quan hệ dài hạn về mặt vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp nƣớc ngoài. Hội nghị UNCTAD (2005) đại diện cho quan điểm rằng, sự góp vốn dài hạn này hàm chứa mối quan hệ dài hạn (lasting interest) giữa nhà đầu tƣ và dự án đầu tƣ, cũng nhƣ một sự chi phối rõ rệt tới ban điều hành của doanh nghiệp có vốn tham gia. Ngoài ra, một doanh nghiệp hoạt động theo khái niệm này đƣợc gọi là FDI, nếu nhƣ có tỷ lệ góp vốn trên 10% tại doanh nghiệp nƣớc ngoài. Khi sự chi phối của các tập đoàn xuyên quốc gia đối với sự phát triển thịnh vƣợng nền kinh tế của các nƣớc đang phát triển ngày càng trở nên rõ ràng, các nhà nghiên cứu tìm cách giải thích xem tại sao các tập đoàn xuyên quốc gia lại đẩy mạnh hoạt động của họ ra nƣớc ngoài dƣới hình thức đầu tƣ trực tiếp.
Hai tác giả Buckley và Casson đã lập luận rằng, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) sẽ đầu tƣ ở nƣớc ngoài trong trƣờng hợp các chi phí giao dịch đối với việc xuất khẩu hay nhƣ 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chi phí phát sinh từ rào cản thƣơng mại cao hơn chi phí điều phối nội bộ giữa công ty mẹ - con. Tác giả Stephek Herbert Hymer (1976) thì khẳng định, các TNCs, MNCsdo thiếu kiến thức về thị trƣờng, chi phí phối hợp cao, rủi ro từ biến động tỷ giá và bị đối xử không công bằng trong các hợp đồng công nên chịu những bất lợi về cạnh tranh so với doanh nghiệp ở nƣớc sở tại. Vì thế, các công ty này phải dựa vào những thế mạnh khác nhƣ công nghệ hiện đại hơn, để cân bằng ƣu thế. Với mô hình chiết trung, còn gọi là mô hình mẫu “OLI-Paradigma“ tƣơng ứng với lợi thế sở hữu về mặt tổ chức (organizational advantage – “O”), lợi thế địa điểm (locational advantage – “L”) và lợi thế nội vi hóa (internalization advantage – “I”), tác giả Dunning John H.
(1981) đã nêu ra ba điều kiện cần đối với doanh nghiệp trong hoạt động đầu tƣ tại nƣớc ngoài, bao gồm: Tính hữu hiệu của lợi thế sở hữu, lợi thế nội vi hóa và lợi thế địa điểm. Lợi thế sở hữu trƣớc các đối thủ cạnh tranh nƣớc ngoài mở ra khả năng kết nối các thị trƣờng mới và giảm chi phí thông qua hiện diện tại chỗ. Lợi thế nội vi hóa chỉ tồn tại, nếu nhƣ do có những rủi ro quá lớn tại nƣớc nhận đầu tƣ mà làm cho việc chuyển giao tri thức cho bên thứ ba sẽ trở nên bất lợi và do đó phải tận dụng lợi thế sở hữu. Lợi thế địa điểm bắt nguồn từ ƣu thế chi phí và những điều kiện khung đầu tƣ và thị trƣờng ở quốc gia nhận đầu tƣ hấp dẫn hơn ở quốc gia đầu tƣ.
Dựa trên sơ đồ kim cƣơng lợi thế cạnh tranh của M. Porter (1990), học giả Barclay (2002) đã giải thích những điều kiện tác động tới hành vi ra quyết định của nhà đầu tƣ khi đứng trƣớc một cơ hội kinh doanh, có thể tóm tắt là: cấu trúc thị trƣờng cạnh tranh hiện tại, nguồn lực của nƣớc nhận đầu tƣ, nhu cầu trên thị trƣờng của nƣớc nhận đầu tƣ và khả năng cung ứng của các ngành công nghiệp hỗ trợ. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhìn công nghiệp hỗ trợ theo ngành, có 3 cách thể hiện chính thức trong các văn bản cấp quốc gia.
Bộ Kinh tế, thƣơng mại và công nghiệp Nhật Bản đƣa ra khái niệm về công nghiệp hỗ trợ vào năm 1993 là “các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tốt đầu vào cần thiết nhƣ nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn…. cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử). Phòng Năng lƣợng Hoa 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kỳ trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi “Các ngành công nghiệp hỗ trợ: công nghiệp của tƣơng lai”, đã định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trƣớc khi chúng đƣợc lƣu thông đến ngành công nghiệp sử dụng cuối cùng (end-use indutries). Nghiên cứu đƣa ra khái niệm về ngành công nghiệp hỗ trợ một cách tổng quát nhƣng trong phạm vi chức năng của mình tập trung chủ yếu vào mục tiêu tiết kiệm năng lƣợng do đó công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của cơ quan này là những ngành tiêu tốn nhiều năng lƣợng nhƣ than, luyện kim, thiết bị nhiệt….