Chương I: Một số vấn đề về lao động và sử dụng lao động trong doanh nghiệp 1. Lý luận về lao động 1. Khái niệm lao động của doanh nghiệp: C Mác viết “ Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, tinh thần tồn tại trong một cơ thé, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nảo đó .” Khi nghiên cứu về lao động của doanh nghiệp ta nghiên cứu về số lượng lao động của doanh nghiệp đó: Số lao động làm việc trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó. Số lượng lao động trong danh sách của doanh nghiệp là những người lao động đã được ghi tên vào danh sách lao động của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động và trả lương.
Số lao động bình quân trong danh sách là số lao động bình quân một thời kỳ nào đó của doanh nghiệp. Số lao động bình quân hàng ngày trong tháng được tính bằng cách cộng số lao động trong doanh sách của các ngày trong tháng (đối với ngày lễ và chủ nhật thì số lao động của ngày trước đó chia cho ngày theo lịch của tháng đó) Sử dụng lao động trong doanh nghiệp được xem xét trên 2 khía cạnh: sử dụng nhân lực về số lao động và sử dụng nhân lực theo cơ cấu. Phân loại lao động: 1. Cơ cấu lao động theo chức năng: Theo chức năng thì lao động được chia thành: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp: gồm công nhân và học nghề - _ Công nhân: là người trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
Tùy theo vai trò mà công nhân lại chia thành các loại: + Công nhân chính: là người trực tiêp san xuât ra sản phâm Sinh viên: Nguyễn Thị Nga Lép Thống Kê Kinh Doanh 48 Chuyên Dé Thực T.ap Giáo viên hướng dẫn: Th.s Phạm Mai Anh + Công nhân phụ: là người phục vụ cho công nhân chính hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc + Công nhân phục vụ : không trực tiếp làm ra sản pham nhưng giúp công nhân chính hoàn thành tốt nhiệm vụ - Hoc nghề: là những người học tập kỹ thuật sản xuất dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề. Lao động này cũng góp phần tạo ra sản phâm cho doanh nghiệp. Lao động gián tiếp: gồm lao động quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế và quản lý hành chính - Lao động quản lý kỹ thuật: bao gồm Giám đốc, phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, quản đốc hoặc phó quản đốc phân xưởng, trưởng phó phòng kỹ thuật, các kỹ sư, nhân viên kỹ thuật. - Lao động quản lý kinh tế: bao gồm: Giám đốc hoặc phó giám đốc kinh doanh; kế toán trưởng, trưởng các phòng ban, các chuyên viên và các nhân viên làm công tác quản lý ở các phòng, ban: Thống Kê, Kế Hoạch, Tài Vụ, Lao Động Tiền Lương, Marketting.
- Lao động quản lý hành chính: là những người làm công tác hành chính, văn thư, đánh may, bảo vé.Ngoai ra còn có các bộ phận khac như: chuyên trách cộng tác Doan, Dang, Công doan, y tẾ. Nghiên cứu tình hình sử dụng lao động 1. Giới thiệu chung về thị trường lao động Việt Nam trong những năm qua Thiếu người: Thực trạng chung trên các thị trường hiện nay đang nổi cộm lên 1 vấn đề khá rõ rệt là tình trạng thiều người trong lao động ở các trình độ, ở tất cả các bộ nghành. Có rất nhiều công việc đỗ dồn vào việc thiếu nhân lực như quản lý, marketting, bán hàng .nên đã xảy ra tình trạng doanh nghiệp này lấy lao động có kinh nghiệp và trình độ của các doanh nghiệp khaki làm cho rất nhiều doanh nghiệp phải đối đầu với bài toán nhân lực.
Từ cuối năm 2006-thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) tạo da cho sự bùng nô của ngành tài chính với hàng loạt công ty, quỹ đầu tư, ngân hàng mới, chính trong lúc này, những nhân sự trở thành mốc nhắm của các doanh nghiệp mới, sử dụng các bồng lộc, quyền lợi và lương bồng đã khiến không ít doanh nghiệp bị rút ruột lao đồng cả trình độ cao và thấp, sự di chuyển đã tạo nên một làn sóng không chi trong thời gian ngắn mà còn trong các năm tiếp theo. Không chỉ trong lĩnh vực tài chính, Sinh viên: Nguyễn Thị Nga Lép Thống Kê Kinh Doanh 48 Chuyên Dé Thực T.ap Giáo viên hướng dẫn: Th.s Phạm Mai Anh vài năm trước đây nhiều doanh nghiệp CNTT, phần mềm cũng đã phải băn khoăn khi lưa chọn nhân sự. Bên cạnh việc bị chèo kéo bởi các công ty khác và đồng thời rất nhiều doanh nghiệp phải đối đầu với hiện tượng nhảy việc Trên các báo chí, phương tiện truyền thông liên tục đưa tin về tình trạng thiếu Chat lượng lao động: Tính đến cuỗi năm 2006, Việt Nam có tổng cộng 45,3 triệu lao động, trong đó ba phan tư là lao động ở nông thôn. Tuy nhiên, sau nhiều năm phát triển, thị trường lao động Việt Nam vẫn “chưa tương xứng với yêu cầu về nguồn lao động cho thị trường”.
Hiện mới chỉ có 32% số lao động là đã qua đào tạo và tỷ lệ lao động đã có chứng chỉ dao tạo ngắn hạn là 14,4%. Báo cáo về tình hình thị trường lao động Việt Nam do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội soạn thảo đã khẳng định: “Việt Nam thiếu tram trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao động dịch vụ cao cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng. nên nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài trong khi lao động xuất khâu da phan có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc mới chi qua giáo dục định hướng”. Kỹ năng, tác phong thiếu chuyên nghiệp: Kỹ năng làm việc của lao động Việt Nam, đặc biệt các lao động mới ra trường là nỗi lo thường trực của doanh nghiệp.
Theo ý kiến của nhiều chủ doanh nghiệp, các cán bộ phụ trách nhận sự thì nguyên nhân chính của thực trạng này nảy sinh ngay từ trong giảng đường, sinh viên chỉ được học kiến thức mà chưa được rèn luyện kỹ năng. Nhiều doanh nghiệp đã phải đào tạo lại sinh viên khi ra trường và vừa đảo tạo vừa phải lo lắng vì nhân viên luôn có ý định nhảy việc, tìm công việc mới để có thêm "kinh nghiệm". Làm trái ngành nghề. Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam vừa thực hiện điều tra, khảo sát thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động trong các doanh nghiệp FDI tại một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo đó, khoảng 74% lao động có việc làm 6n định, 22% lao động không có việc làm én định, 4% thiếu việc làm. Chỉ có khoảng 50% lao động có đào tạo được làm đúng Theo dự báo trong thời gian tới thị trường lao đông chất xám của Việt Nam sẽ xuất hiện khủng hoảng thừa Ngoài ra nguồn lực này còn bị hạn chế bởi tỷ lệ lao động có kỹ năng thấp, mat cân đối về cơ cấu lao động theo trình độ, kỹ năng, lao động chất xám thiếu và yếu về chất lượng, thé lực kém, tác phong công nghiệp và ky luật lao động thấp Sinh viên: Nguyễn Thị Nga Lép Thống Kê Kinh Doanh 48 Chuyên Dé Thực T.ap Giáo viên hướng dẫn: Th.s Phạm Mai Anh Chưa đáp ứng chuẩn mực đào tao: Theo thống kê của Bộ GDĐT, có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm. Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứng được công việc, không ít công ty phải mat 1-2 năm đào tạo lại. Bằng cấp đào tạo chưa được thị trường lao động quốc tế thừa nhận, tốt nghiệp đại học ở Việt Nam chưa hắn ở nước ngoài đã được trả lương theo văn bằng.
Nam 2007, số sinh viên tốt nghiệp Đại học là 161. Theo ước tính, mỗi tam bằng Đại học người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn Nhà nước đầu tư khoảng 30 triệu đồng. Như vậy, với ti lệ 63% sinh viên ra trường chưa có việc làm, có thé làm một phép tinh dé thấy kinh phí đã đầu tư rồi sinh viên vẫn thất nghiệp (161. Chỉ tính riêng năm nay ít nhất là 7.117 tỉ đồng (trong đó, 4.067 tỉ đồng của dân, còn là 3.050 tỉ đồng của Nhà nước).201 SV đại học và cao dang, so với dân số nước ta, tỉ lệ trung bình ở nước ta là 181 SV/vạn dân, sinh viên dự kiến tăng tuyên sinh 10%, và đến 2020 sẽ có 600 trường DH&CD, gap 2 lần số trường đã có hiện nay, mỗi huyện thị trung bình có 1 trường.
Tỉ lệ ở thế giới là 100 SV/vạn dân, Trung Quốc là 140 SV/vạn dân. Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc gấp 2 lần thu nhập ở Việt Nam. Kinh tế, theo lịch sử, sẽ quyết định quy mô giáo dục. Năm nay Nhà nước dự kiến chi 4.000 tỉ đồng cho vay dé học tập.
Dé duy trì quỹ vay này hoạt động thường xuyên, theo chuyên gia, con số này không phải là 4.000 tỉ đồng, mà phải là 15.000 tỉ đồng Bắt cập của hệ thống giáo dục chưa đáp ứng được chuẩn mực đào tạo trong ngoài nước. Rõ rang, chúng ta đang ở trong vòng luan quân nghéo đói và lãng phí. Dao tạo không sử dụng được, thì sự lãng phí không thé đong đếm được, vì ngoài tiền của là thời gian, sức trẻ. ? Những bát cập về cơ cấu và chat lượng: Sự bat cập về cơ cau và chat lượng nguồn nhân lực có nhiều, nhưng xin nêu ba nguyên nhân chính.
Bậc đại học là bậc tự học. Muốn đào tạo có chất lượng, điều kiện tối thiểu phải có đầy đủ SGK và giáo trình (gọi chung là sách), theo một chương trình đạo tạo chuẩn mực ồn định. Hiện nay bậc phô thông bội thực sách, còn ở bậc đại học đói sách phải học chay trién miên. Có lẽ vì lượng sách phô thông in ấn hàng triệu bản, thu lãi cả triệu USD/môn học, thì bộ quản chặt, còn sách in hàng nghìn bản ở ĐH không mang lợi thì để các trường tự lo? Chương trình dao tao được chi đạo trước đây sao chép chương trình Sinh viên: Nguyễn Thị Nga Lép Thống Kê Kinh Doanh 48 Chuyên Dé Thực T.ap Giáo viên hướng dẫn: Th.s Phạm Mai Anh của Đại học Chiềng Mai - Thái Lan, và hàng vạn cuộc họp được tổ chức suốt 20 năm qua, nhưng kết quả vẫn còn ở phía trước? Gần đây lại chỉ đạo "nhập khẩu" chương trình đào tạo của các nước tiên tiến với vốn vay hàng triệu USD tu nước ngoài.