Chương 1: Tổng quan cơ sở lý thuyết về vấn đề nghiên cứu; Chương 2: Thực trạng về nguồn lực của nhà trường và năng lực SV tốt nghiệp trường ĐH Nông Lâm sau khi tốt nghiệp; Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng tăng khả năng tìm việc đối với SV của trường ĐHNL 4 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO THEO HƢỚNG TĂNG KHẢ NĂNG TÌM VIỆC CHO SINH VIÊN TỐT NGHIỆP 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài SCANS [57] đã phân những kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp thành 4 nhóm như: Kỹ năng cơ bản (basic skills); Kỹ năng tư duy (thinking skills); Phẩm chất cá nhân (personal qualities); Năng lực làm việc (workplace competences). Theo nhóm nghiên cứu Louw et al, Nabi & Bagley, Neelankavil [47,48,49] đã đưa ra các kỹ năng và năng lực của sinh viên đáp ứng việc làm cho các doanh nghiệp như: Lãnh đạo, lãnh đạo nhóm, làm việc nhóm, quản lý thời gian, quản lý thời gian, giao tiếp cá nhân, khả năng sắp xếp công việc, kỹ năng tổ chức, khả năng làm việc dưới áp lực cao. Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu của chương trình Quốc tế về Đánh giá Học sinh OECD/PISA bởi các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế OECD [51] cho rằng, “người học có nhiều kỹ năng cần thiết để phát triển như kỹ năng truyền thông, khả năng thích ứng, tính linh hoạt, giải quyết vấn đề và sử dụng công nghệ thông tin”. Những kỹ năng, những kiến thức và phẩm chất đó đã quyết định đến nghề nghiệp tương lai của sinh viên,.
Theo một số nghiên cứu khác cho thấy phần lớn sinh viên tốt nghiệp thường không có việc làm hoặc khó tìm việc làm theo ý muốn, cụ thể như: kết quả nghiên cứu của Chính phủ Malaysia năm 2005, số lượng sinh viên thất nghiệp lên đến 60 ngàn sinh viên trong năm 2005, trong số đó phần lớn do khả năng nói tiếng Anh kém. Mặt khác, nghiên cứu của Pitan Oluyomi [54] đã cho thấy 60,6% sinh viên thiếu kỹ năng giao tiếp, IT (công nghệ thông tin), ra quyết định, tư duy phê phán và kỹ năng kinh doanh. Theo đó, nghiên cứu của Xiaoxue Li [63] và Jane Stewart [44] cho thấy các yếu tố như trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, mức lương, điều kiện làm việc, khu vực sinh sống, giới tính, mối 5 Luan van quan hệ xã hội và tuổi tác. Đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tìm việc của sinh viên.
Nhìn chung, những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm việc được các nhà nghiên cứu đề cập nhiều nhất đó là: kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm làm việc và điều kiện làm việc. Để có được những kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đó, đòi hỏi không chỉ có sự nỗ lực của chính bản thân người học mà còn là những yếu tố tài nguyên nhà trường góp phần tạo nên năng lực đáp ứng khả năng tìm việc làm sinh viên mà tác giả Baruch và Leeming [28] đã quan tâm. Cụ thể, nhóm nghiên cứu Caiyod và cộng sự [30] đã đưa ra những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm của sinh viên ngành khách sạn như: tuổi, giới tính, ngoại hình, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, giáo dục (chương trình học). Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên tốt nghiệp phải có năng lực cao như: Kỹ năng giao tiếp, kiến thức xã hội.
Đây là những kỹ năng quan trọng giúp sinh viên đáp ứng với nghề khách sạn. Để hình thành nên năng lực người học tác giả Kathy Denise Wigal đã đề cập đến chuẩn đầu ra và đội ngũ giảng viên, theo Kathy Denise Wigal [46] một khi xác định được chuẩn đầu ra, giảng viên sẽ tập trung vào việc thiết kế các hoạt động thu hút sự tham gia của sinh viên trong lớp học, qua đó gia tăng mức độ phù hợp nhằm đạt được chuẩn đầu ra đã đề ra, bằng cách sử dụng khung phân loại nhận thức của Blooms (nhớ, hiểu, vận dụng và tổng hợp) nhằm xem xét mức độ lĩnh hội của sinh viên so với chuẩn đầu ra mong muốn. Như vậy, chuẩn đầu ra sẽ phản ánh tầm nhìn sứ mạng của nhà trường, chuẩn đầu ra còn cung cấp thông tin chung về trọng tâm của các hoạt động học tập của sinh viên cũng như mục đích mà sinh viên phải đạt được sau khi tốt nghiệp, chuẩn đầu ra không chỉ hiểu là chuẩn hoặc kết quả đầu ra của cấp chương trình đào tạo mà còn là chuẩn đầu ra ở cấp môn học, buổi học. Từ đó, môn học và nội dung mỗi môn học phải được thiết kế phù hợp bao gồm những kiến thức, kỹ năng giao tiếp hay kỹ năng văn bản, kỹ năng giải quyết vấn đề, sử dụng công nghệ thông tin và làm việc nhóm.
Theo tác giả, việc nắm bắt được thông tin chuẩn đầu ra có vai trò rất quan trọng, chuẩn đầu ra cần phải được công bố 6 Luan van công khai và được cán bộ, GV, SV biết đến. Khi họ nắm bắt được chuẩn đầu ra, họ sẽ tập trung vào việc thiết kế các hoạt động dạy và học nhằm gia tăng khả năng nhận thức và đạt được những kỹ năng cần thiết sau khi tốt nghiệp. Mặt khác, yếu tố đo lường đánh giá cũng quan trọng đến năng lực sinh viên tốt nghiệp, theo nghiên cứu của Trường đại học Texas A&M, cho rằng nhận thức và thái độ của sinh viên trong các chương trình khoa học, toán học, kỹ thuật và công nghệ gọi tắt là SMET có vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng kiên trì và độc lập trong sự chuẩn bị học tập của sinh viên. Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác biệt về giới tính trong khả năng kiên trì, cụ thể nữ giới thấp hơn nam giới.
Ngoài ra, việc đo lường nhận thức và thái độ của sinh viên đã trở nên quan trọng, hai công cụ để đo lường thái độ và nhận thức của sinh viên năm thứ nhất và năm thư hai là giấy và web. Trường đại học Texas A&M thiết kế khảo sát và đánh giá sinh viên năm nhất về các kỹ năng giao tiếp, tích hợp kiến thức, học tập suốt đời, kỹ năng công nghệ và kinh nghiệm làm việc nhóm Grahm, J. Từ đó cho thấy, để năng lực của sinh viên được hình thành và đạt yêu cầu chuẩn đầu ra hay đạt kết quả mong đợi thì công tác đánh giá và sử dụng công cụ đánh giá phù hợp về kỹ năng và kiến thức sinh viên phải được quan tâm ngay từ mới bắt đầu học đại học.2 Các nghiên cứu trong nƣớc Hiện nay, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu để tìm ra giải pháp cải thiện khả năng tìm việc làm cho sinh viên, cụ thể như: kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương [15] cho thấy, tình trạng năng lực sinh viên kế toán - kiểm toán sau khi tốt nghiệp ở mức chưa đáp ứng tốt yêu cầu trong công việc, kém khả năng cạch tranh, kém khả năng thích ứng vì thiếu kinh nghiệm thực tế, thiếu kỹ năng và khả năng ngoại ngữ không tốt. Với “Nhu cầu làm việc chất lượng cao của xã hội” cho thấy, thực trạng chung là phần lớn sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm phù hợp và ổn định, do chưa định hướng đúng mức về nghề nghiệp – việc làm tương lai, vì một số sinh viên chọn ngành học chưa phù hợp năng lực, sở trường và xu hướng phát triển thị trường lao động -Lê Thành 7 Luan van Tâm [8].
Mặt khác, các doanh nghiệp rất quan tâm tuyển chọn đối với sinh viên tốt nghiệp có kiến thức về ngoại ngữ, khả năng hợp tác, kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, những hiểu biết về môi trường văn hóa doanh nghiệp và tác phong làm việc công nghiệp. Sự hạn chế lớn của sinh viên khi ra trường, đa số chưa định hướng được cụ thể để chọn một ngành chuyên môn phù hợp với khả năng, đồng thời do hệ thống thông tin thị trường lao động, hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm thành phố chưa cập nhật kịp thời để gắn kết sinh viên và doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Theo Nguyễn Thanh Ngọc [13], cho rằng có ba nhóm kỹ năng cơ bản giúp sinh viên có sự định hướng tốt hơn trong việc trang bị các nhóm kỹ năng đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng như: nhóm kỹ năng về trình độ chuyên môn, nhóm kỹ năng mềm và nhóm kỹ năng về quản lý. Còn nghiên cứu của Phan Thị Thanh Trúc – Võ Thị Phương [19], cho rằng sinh viên tốt nghiệp rất yếu kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng ngoại ngữ, về Phẩm chất đạo đức/động cơ phấn đấu và khả năng giao tiếp được đánh giá cao.
Tuy nhiên đây là kết quả nghiên cứu cho sinh viên thuộc khu vực Tây nguyên. Nhìn chung các công trình nghiên cứu chỉ nghiên cứu về tình hình việc làm của sinh viên nói chung, không nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng khả năng tìm việc của sinh viên riêng của một khoa cụ thể.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 1.1 Khái niệm đào tạo Từ điển Giáo dục học [20] định nghĩa: “Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp, những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước” Theo Từ điển Tiếng Việt [21] thì đào tạo là: “Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” Theo Nguyễn Minh Đường [12] đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, 8 Luan van thái độ….để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và có hiệu quả. Trong đề tài này, người nghiên cứu hiểu đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đồng thời giáo dục phẩm chất, đạo đức, thái độ cho người học để họ có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định.