CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ THỎA THUẬN TÀI SẢN TRƯỚC HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Những vấn đề chung về thỏa thuận tài sản trước hôn nhân 1. Lịch sử hình thành Hơn 2000 năm trước, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân đầu tiên được tìm thấy là những thỏa thuận được ghi trên giấy cói về của hồi môn cô dâu sẽ mang theo vào ngày cưới và số tiền sính lễ mà chú rể sẽ trả cho gia đình cô dâu ở Ai Cập cổ đại. Cũng vào khoảng thời gian đó, Simeon ben Shetach - một giáo sĩ Do Thái giáo cũng đã cho ra đời một trong những phiên bản sơ khai của thỏa thuận tài sản trước hôn nhân được gọi là Ketubah.
Theo tiếng Do Thái, Ketubah mang ý nghĩa là “nó được viết ra”. Những Ketubah sẽ quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của chú rể trong mối quan hệ với cô dâu và đây là một trong những văn bản pháp lý đầu tiên trao quyền tài chính cho phụ nữ trong hôn nhân. Trên thực tế, Ketubah được cho là ví dụ bằng văn bản đầu tiên của một tài liệu đảm bảo rằng một người phụ nữ được thừa kế tài sản của chồng mình nếu anh ta chết. Ketubahs cũng được thiết kế nghệ thuật và in ấn một cách sáng tạo.
Mặc dù các vấn đề tài chính được trình bày chi tiết trong Ketubah, nhưng nó thường được đóng khung và treo trang trí trong nhà của một cặp vợ chồng1. Tại các quốc gia châu Âu, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân được bắt nguồn từ phong tục của hồi môn và được ghi nhận lần đầu vào thế kỷ thứ 9. Ở thời điểm này, những thỏa thuận trước hôn nhân phần lớn được sử dụng bởi hoàng gia. Một ví dụ điển hình là thỏa thuận giữa Elizabeth (Wright) Oglethorpe và tướng James Oglethorpe để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của Elizabeth vào giữa những năm 1700.
Ở giai đoạn thế kỷ 19 - thế kỷ 20, các thỏa thuận tài sản trước hôn nhân tiếp tục có những bước phát triển lớn khi nữ quyền cũng như quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế của phụ nữ ngày càng được nâng cao. Điểm nhấn của thỏa thuận tài sản trước hôn nhân trong giai đoạn này là việc Đạo luật Thống nhất về thỏa thuận trước hôn nhân của Hoa Kỳ (UPAA) được soạn thảo vào năm 1983. Trong thế kỷ 21, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân đã trở nên đa dạng hơn bao giờ hết. Các thỏa thuận rất đa dạng, từ các tài liệu dài và phức tạp đến các thỏa thuận khá đơn giản.
Thay vì được chỉ định để bảo vệ lợi ích của người vợ, các thỏa thuận tài sản trước hôn nhân hiện được sử dụng để tạo ra sự phân chia tài sản công bằng mà cả hai vợ chồng đều đồng ý2. Và ngày nay, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân đã trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. 1 Julia Rodgers, “A Brief History: Prenuptial Agreements”, Hello Prenup [https://helloprenup.com/prenuptial- agreements/history-prenuptial-agreements/] (truy cập ngày 13/02/2023). 2 Julia Rodgers, “A Brief History: Prenuptial Agreements”, Hello Prenup [https://helloprenup.com/prenuptial- agreements/history-prenuptial-agreements/] (truy cập ngày 28/02/2023).
Khái niệm thỏa thuận tài sản trước hôn nhân Theo Từ điển Oxford, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân (prenuptial agreement) là “an agreement made by a couple before they get married in which they say how their money and property is to be divided if they get divorced” hay có thể được hiểu đây là một thỏa thuận được lập bởi một cặp vợ chồng trước khi họ kết hôn về việc tiền và tài sản sẽ được phân chia như thế nào nếu họ ly hôn3. Từ điển Black’s Law của Henry Campbell Black, từ điển luật được sử dụng rộng rãi nhất ở Hoa Kỳ định nghĩa thỏa thuận tài sản trước hôn nhân là “an agreement made before marriage usu. to resolve issues of support and property division if the marriage ends in divorce or by death of a spouse”. Nghĩa là, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân là một thỏa thuận thường được lập trước khi kết hôn để giải quyết các vấn đề về cấp dưỡng và phân chia tài sản nếu các bên ly hôn hoặc một trong hai vợ chồng qua đời4.
Và tại các quốc gia khác nhau, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân có SỰ khác biệt. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức) không định nghĩa cụ thể nhưng tại khoản 1 Điều 1408 Bộ luật Dân sự của CHLB Đức (BGB) vẫn có quy định vợ chồng có thể thỏa thuận để thay đổi chế độ tài sản trong hôn nhân theo luật định, và vợ chồng cũng có thể hủy bỏ hoặc thay đổi chế độ tài sản trong hôn nhân sau khi kết hôn. Điều này đồng nghĩa với việc dù không trực tiếp định nghĩa nhưng pháp luật CHLB Đức vẫn gián tiếp cho phép các cặp đôi có thể lập thỏa thuận tài sản cho cuộc hôn nhân của mình. Bên cạnh đó, từ điển tiếng Đức của Jacob Grimm và Wilhelm Grimm cũng định nghĩa thỏa thuận tài sản hôn nhân là “quy định về thỏa thuận giữa vợ chồng (thường được ký kết trước khi kết hôn), quy định việc phân chia tài sản (ví dụ: tiền, bất động sản) và quyền lợi chung (ví dụ: quyền lợi lương hưu) , đặc biệt trong trường hợp ly thân (ly hôn).”5 Theo pháp luật Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Hoa Kỳ), các thỏa thuận tài sản trước hôn nhân được công nhận ở tất cả năm mươi tiểu bang và quận Columbia, chúng có hiệu lực thi hành nếu được soạn thảo phù hợp với các yêu cầu của luật tiểu bang và liên bang.
Trong đó, có 28 bang đã thông qua Đạo luật Thống nhất về thỏa thuận trước hôn nhân của Hoa Kỳ (UPAA/UPMAA). Theo điểm a Điều 1 UPAA, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân được định nghĩa là thỏa thuận được lập trước khi kết hôn và có hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, điểm b Điều luật này cũng định nghĩa “tài sản” trong thỏa thuận là khoản lợi ích ở thời điểm hiện tại hay phát sinh trong tương lai, khoản lợi ích này phải hợp pháp hoặc hợp lệ, là tài sản riêng hay nằm trong tài sản chung với người khác, bất 3 “Prenuptial agreement” [https://www.com/definition/english/prenuptial- agreement?q=prenuptial+agreement] (truy cập ngày 18/01/2023). 4 Thomson Reuters (2009), Black’s Law Dictionary (9th edition), United States of America, tr.
5 Jacob Grimm, Wilhelm Grimm (1854), Deutsches Wörterbuch, Deutscher Taschenbuch Verlag, tr. 15 động sản hay tài sản của cá nhân, bao gồm cả thu nhập do lao động và cả các khoản thu nhập khác. Có thể thấy, pháp luật Hoa Kỳ định nghĩa về thỏa thuận trước hôn nhân chỉ giới hạn trong các vấn đề về tài sản giữa vợ chồng. Đúng với cái tên “Thỏa thuận tài sản trước hôn nhân” - một thỏa thuận được lập ra trước khi kết hôn, quy định về quyền và nghĩa vụ trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng đối với vấn đề tài sản.
Theo pháp luật Canada, khoản 1 Điều 52 Đạo luật Gia đình Ontario, Canada cho phép hai người đã kết hôn hoặc có dự định kết hôn có thể ký kết một thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ tương ứng của họ khi kết hôn hoặc ly thân, hủy bỏ hoặc chấm dứt hôn nhân hoặc về cái chết trong những việc như quyền sở hữu hoặc phân chia tài sản; nghĩa vụ cấp dưỡng; quyền quyết định việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho con cái nhưng không có quyền quyết định trách nhiệm hay thời gian nuôi dạy đối với con cái của họ hay bất kỳ vấn đề nào khác trong giải quyết công việc của họ theo quy định của pháp luật nước này. Hay theo quy định của một bang khác của Canada là Québec, theo Điều 431 Bộ luật Dân sự của bang này, bất kỳ quy định nào cũng có thể được đưa ra trong thỏa thuận hôn nhân, tùy thuộc vào các quy định bắt buộc của luật pháp và trật tự công cộng. Khác với pháp luật Hoa Kỳ, định nghĩa về thỏa thuận tương đối rộng, thỏa thuận không chỉ là một thỏa thuận tài sản trước hôn nhân quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về lĩnh vực tài sản mà còn cho phép quy định các vấn đề khác. Thỏa thuận có thể bao gồm các quy định từ quyền tài tài sản như quyền sở hữu hoặc phân chia, cấp dưỡng cho đến những vấn đề như giáo dục con cái hay một số vấn đề trong công việc.
Theo pháp luật Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Nhật Bản không nêu định nghĩa về thỏa thuận tài sản trước hôn nhân nhưng vẫn có điều luật cho phép các bên được thành lập thỏa thuận này, cụ thể tại Điều 755 Bộ luật này quy định quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng sẽ tuân theo chế độ tài sản luật định trừ trường hợp trước khi thông báo kết hôn vợ, chồng đã giao kết thỏa thuận có quy định khác về tài sản của mình với chế độ tài sản luật định. Bên cạnh đó, theo từ thỏa thuận tài sản trước hôn nhân trong tiếng Nhật là 婚前契約 (ko/n'zen'‾ke/iyaku‾) được kết hợp từ 婚 có thể được hiểu là hôn nhân, 前 là trước (tiền) và 契約 là khế ước hay hợp đồng. Như vậy, có thể hiểu, định nghĩa của thỏa thuận tài sản trước hôn nhân tại Nhật Bản là “một khế ước được lập trước khi kết hôn”. Khi kết hợp hai điều trên có thể hiểu, thỏa thuận tài sản trước hôn nhân tại Nhật Bản được hiểu như một thỏa thuận được lập trước khi kết hôn, quy định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng.
16 Theo pháp luật Thái Lan, Điều 1475 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định nếu trước khi kết hôn mà vợ chồng không ký kết bất kỳ thỏa thuận đặc biệt nào liên quan đến quan hệ tài sản giữa họ, thì các vấn đề về tài sản của họ sau khi kết hôn sẽ được điều chỉnh bởi những quy định của chế độ tài sản theo luật định. Nghĩa là, có thể hiểu thỏa thuận tài sản trước hôn nhân tại Thái Lan là thỏa thuận được ký kết trước khi kết hôn, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Qua những phân tích đã đưa ra, có thể kết luận thỏa thuận tài sản trước hôn nhân ở các quốc gia đều mang hàm nghĩa một thỏa thuận được lập trước khi kết hôn. Những thỏa thuận này sẽ quy định về các mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng sau khi họ tiến tới hôn nhân.