mở đầu Điều XX. Điểm g sẽ được phân tích theo thứ tự: (i) xác định nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt; (ii) “liên quan tới” được hiểu là chủ yếu nhằm vào, đây là quan điểm được áp dụng từ trước khi WTO ra đời, và (iii) việc áp dụng biện pháp nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt phải được áp dụng cùng với hạn chế sản xuất và tiêu dùng trong nước. Ozbirn, “An Analysis and Synthesis of the Decisional Law Applying Article XX(g) of the General Agreement on Tariffs and Trade”, Pacific McGeorge Global Business & Development Law Journal 21, no. 2 (2008) 14 Trong luận văn International trade and environmental disputes: an analysis of Article XX of the General Agreement on Tariffs and Trade (1994) and environmental policies of the developing and developed world”26 (tạm dịch là “Tranh chấp thương mại và môi trường quốc tế: phân tích Điều XX của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (1994) và các chính sách môi trường của các nước đang phát triển và nước phát triển”), tác giả Faith Tendayi Manjoro nhận định rằng các biện pháp hạn chế thương mại được áp dụng làm công cụ để bảo vệ môi trường là nguồn gốc dẫn đến xung đột giữa thương mại và môi trường.
GATT nhằm mục đích tự do hóa thương mại, nhưng hầu hết các chính sách môi trường được thực thi thông qua các biện pháp hạn chế thương mại như hạn ngạch và giấy phép. Tuy nhiên, điểm b và điểm g Điều XX của GATT mặc dù không đề cập rõ ràng đến môi trường, nhưng các quốc gia thành viên GATT lại dựa vào quy định này như một cơ sở pháp lý để bảo vệ môi trường. Điều này ngược lại với các Hiệp định Đa phương về Môi trường (MEAs) thường có quy định phép sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, từ thực tiễn giải quyết tranh chấp như Hoa Kỳ - Tôm (DS 58), EC - Amiăng (DS 135) tác giả thấy rằng điểm b và điểm g Điều XX của GATT cho phép thành viên GATT áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường với những điều kiện nhất định.
Do đó, tác giả cho rằng, thành viên GATT nên hướng tới việc hoàn thành các mục tiêu về môi trường thông qua các biện pháp được GATT cho phép. Các quốc gia không nên sử dụng các các biện pháp phân biệt đối xử như cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, thuế phân biệt đối xử và thương mại đơn phương vi phạm GATT. Luận văn Trade-related Environmental Measures under GATT Article XX(b) and (g)27 của tác giả Sonia Gabiatti tổng hợp cách giải thích của BHT và CQPT về một số tranh chấp liên quan tới điểm b và điểm g Điều XX. Tác giả thấy rằng các biện pháp viện dẫn ngoại lệ tại điểm b và điểm g Điều XX thường bị cáo buộc vi phạm các nghĩa vụ cơ bản tại Điều I, III và XI của GATT.
Thành viên WTO có thể 26 Faith Tendayi Manjoro (2006), “International trade and environmental disputes: an analysis of Article XX of the General Agreement on Tariffs and Trade (1994) and environmental policies of the developing and developed world”, Master thesis at Rhodes University 27 Sonia Gabiatti (2009), “Trade-related Environmental Measures under GATT Article XX(b) and (g)”, Luận văn thạc sỹ của Trường đại học Iceland (University of Iceland) 15 lựa chọn và áp dụng các biện pháp có mục tiêu bảo vệ môi trường ở mức cao nhưng phải chứng minh biện pháp đó phải phù hợp với điểm b, điểm g Điều XX. Những biện pháp này sẽ phải đáp ứng yêu cầu Đoạn mở đầu Điều XX. Thứ ba, về các công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa biện pháp bị kiện và lợi ích được bảo vệ theo Điều XX của GATT. Mối liên hệ này được thể hiện thông qua các thuật ngữ cần thiết (necessary) - trong điểm a, b và d; liên quan đến (relating to) trong điểm c, e và g; nhằm thi hành (in Pursuance of) trong điểm h; để bảo vệ (for the protection of) trong điểm f; bao gồm (involving) trong điểm i; thiết yếu (essential) trong điểm j.
Các công trình chủ yếu tập trung vào thuật ngữ “cần thiết” và “liên quan tới” trên cơ sở các báo cáo giải quyết tranh chấp của BHT và CQPT WTO. Trong bài viết The Meaning of “Necessary” in GATT Article XX and GATS Article XIV: The Myth of Cost-Benefit Balancing28 (tạm dịch là “Ý nghĩa của từ “Cần thiết” trong Điều XX của GATT và Điều XIV của GATS: Huyền thoại về cân bằng chi phí-lợi ích”) tác giả Donald H. Regan bình luận về thuật ngữ “cần thiết”. Tác giả đưa ra nhận định thuật ngữ “cần thiết” được giải thích trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO theo điểm a, điểm b Điều XX của GATT là việc kiểm tra sự “cân bằng” của các lợi ích đạt được từ mục tiêu của biện pháp bị kiện với so với chi phí về thương mại bị suy giảm.
Nhưng với quan điểm của CQPT xem xét sự “cần thiết” trong điểm d Điều XX của GATT trong vụ tranh chấp Hàn Quốc - Các biện pháp khác nhau liên quan tới sản phẩm thịt bò (DS 161, 169), tác giả thấy rằng, thực tế CQPT vẫn cho phép thành viên WTO khi theo đuổi một số mục tiêu hợp pháp được phép tự lựa chọn mức độ bảo vệ để đạt mục tiêu đó. Điều này dường như là không phù hợp với logic về sự cân bằng. Nhưng theo tác giả, CQPT vẫn đảm bảo được sự cân bằng, bởi vì tiếp theo các yếu tố của sự cân bằng là kiểm tra sự tồn tại của những biện pháp khả thi có sẵn, ít hạn chế thương mại hơn. Nếu đảm bảo cả yếu tố này, thì biện pháp đang được xem xét mới được kết luận là “cần thiết”.
Regan (2007), "The Meaning of “Necessary” in GATT Article XX and GATS Article XIV: The Myth of Cost-Benefit Balancing" World Trade Review 6, no. 3 16 Trong bài viết The “necessary” element of GATT Article XX in the context of the China - Audiovisual products case 29 (tạm dịch là “Yếu tố “cần thiết” của Điều XX của GATT trong bối cảnh vụ kiện Trung Quốc - xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn”) của tác giả Christopher Doyle nghiên cứu về kết luận về các yếu tố của sự “cần thiết” trong điểm a Điều XX của GATT của CQPT trong vụ Trung Quốc - xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn (DS 363). Trước hết tác giả đưa ra cách giải thích sự cần thiết trong những vụ tranh chấp liên quan tới điểm a, điểm b và điểm d Điều XX được giải quyết trước đó. Tác giả thấy rằng, giống với các vụ tranh chấp trước đó, báo cáo của BHT và CQPT vụ Trung Quốc - xuất bản phẩm và các sản phẩm nghe nhìn (DS 363) cũng xác định sự cần thiết dựa trên yếu tố của sự cần thiết bao gồm việc kiểm tra sự cân bằng và sự tồn tại của các biện pháp thay thế có sẵn.
Theo tác giả, sự cần thiết trở thành một rào cản lớn đối với các bên bị đơn cố gắng biện minh cho biện pháp của mình phù hợp với ngoại lệ tại Điều XX của GATT, nhưng lại là lợi thế đối với các bên nguyên đơn. Bài viết A matter of necessity: A one-step compromise between liberalized trade and the environment 30 (tạm dịch là “Vấn đề về cần thiết: quy trình một bước thoả hiệp giữa tự do hóa thương mại và môi trường”) của tác giả William P. Hunter nhận định: WTO dường như nhận thức được rằng tự do hóa thương mại không phải là mối quan tâm toàn cầu duy nhất. Tuy nhiên, khó có thể phát hiện nhận thức đó khi xem xét các phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Phép thử hai bước cho phép các thành viên WTO tự do hành động theo điểm b Điều XX của GATT, nhưng lại phải tuân theo các yêu cầu nghiêm ngặt ủng hộ tự do hóa trong Đoạn mở đầu Điều XX. Điều này khiến WTO khó có thể là một tổ chức tự do hoá thương mại tồn tại trong một thế giới đầy những giá trị xã hội quan trọng và cạnh tranh. WTO có mọi quyền mong đợi và khuyến khích các thành viên tôn trọng các nghĩa vụ WTO của họ. Ngược lại, các thành viên cũng có thể kỳ vọng WTO phát triển các cơ chế giải quyết tranh chấp 29 Christopher Doyle (2011), “The “necessary” element of GATT Article XX in the context of the China - Audiovisual products case”, Boston University international law journal, Vol.
Hunter, “A matter of necessity: A one-step compromise between liberalized trade and the environment”, Temple International and Comparative Law Journal, Spring 2014, p. 53-82 17 có thể cân nhắc một cách công bằng và thỏa đáng giá trị của tự do hóa thương mại quốc tế với các giá trị xã hội khác như bảo vệ môi trường. Giải pháp của vấn đề này là phép phân tích một bước khi xem xét các biện pháp bảo vệ môi trường theo điểm b Điều XX của GATT: Các điều kiện trong Đoạn mở đầu Điều XX của GATT trở thành một yếu tố để của quá trình cân bằng (bên cạnh ba yếu tố: tầm quan trọng của mục tiêu được bảo vệ, sự đóng góp của biện pháp bị khiếu kiện để bảo vệ cho mục tiêu, tác động hạn chế thương mại của biện pháp bị khiếu kiện) khi xem xét sự cần thiết tại điểm b Điều XX của GATT. Sự thay đổi này sẽ làm tăng khả năng một biện pháp bảo vệ môi trường được biện minh theo điểm b Điều XX của GATT.
Trong bài viết The concept of necessity under the GATT and national regulatory autonomy31 (tạm dịch là “Khái niệm về sự cần thiết theo GATT và quyền tự chủ của quốc gia”), tác giả Isabel Cristina Salinas Alcaraz đánh giá các quy định của GATT tìm kiếm sự cân bằng giữa các cam kết thương mại tự do của thành viên và quyền của các thành viên trong việc đạt được các mục tiêu chính sách công của họ. Sự cân bằng này cần phải được CQPT chú ý đến khi giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, theo tác giả, CQPT đã giải thích và áp dụng thuật ngữ “sự cần thiết” tại Điều XX của GATT trong giải quyết một số vụ tranh chấp tại WTO là: các yếu tố của sự cần thiết được CQPT sử dụng trong giải quyết tranh chấp là không có trong văn bản GATT và không phản ánh được sự cân bằng giữa tự do hoá thương mại với quyền tự chủ trong ban hành chính sách pháp luật của các quốc gia. Cho đến vụ Hàn Quốc - Các biện pháp khác nhau liên quan tới sản phẩm thịt bò (DS 161, 169), CQPT sử dụng các yếu tố của quá trình cân bằng cũng đã gây ra nhiều tranh cãi.