Chương 1. Thơ ca kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954 và Huỳnh Văn Nghệ Ở trong chương này, người viết đi vào tìm hiểu diện mạo thơ kháng chiến ở Nam bộ giai đoạn 1945 – 1954 cũng như khái quát những đặc điểm của thơ ca 8 kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ giai đoạn này. Cùng với đó là tìm hiểu một cách ngắn gọn về con người, cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ. Những cảm hứng chính trong thơ của Huỳnh Văn Nghệ giai đoạn 1945 – 1954 Khi tìm hiểu những cảm hứng sáng tác chính trong thơ Huỳnh Văn Nghệ người viết tập trung triển khai theo 3 cảm hứng cơ bản là cảm hứng công dân, cảm hứng xã hội – thế sự và cảm hứng tình yêu.
Trong quá trình tìm hiểu người viết sẽ đặt thơ Huỳnh Văn Nghệ trên tương quan đối sánh với các nhà thơ Nam Bộ cùng thời khác để thấy được những nét tương đồng cũng như khác biệt khi ta tìm hiểu thơ Huỳnh Văn Nghệ. Nghệ thuật thơ của Huỳnh Văn Nghệ trong dòng chảy của thơ kháng chiến ở Nam bộ giai đoạn 1945 - 1954 Ở phần này, người viết sẽ triển khai tìm hiểu nghệ thuật thơ Huỳnh Văn Nghệ trên 3 phương diện cơ bản là: thể thơ, giọng điệu vả ngôn ngữ để từ đó làm sáng rõ những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật thơ Huỳnh Văn Nghệ nói chung. Ngoài ra, còn có những phần phụ khác như phần mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo. THƠ CA KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở NAM BỘ GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 VÀ HUỲNH VĂN NGHỆ 1.
Diện mạo thơ kháng chiến ở Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954 Trong kháng chiến, thơ là thể loại phát triển mạnh mẽ nhất, có tính quần chúng sâu rộng và thành tựu cũng nổi bật hơn so với các thể loại khác. Có thể giải thích hiện tượng này bằng truyền thống yêu thơ ca của dân tộc. Một lí do khác có thể giải thích thơ là thể loại văn học cơ động, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm, toàn dân đứng lên đánh giặc thì thơ có thể xem là người bạn đồng hành cùng các chiến sĩ trong từng bước hành quân và cuộc sống gian khổ ở chiến trường.
Người ta khó có thể thuộc truyện, thuộc tiểu thuyết, thuộc kí. nhưng thơ thì lại thật dễ dàng. Chính vì vậy, Hoài Thanh trong Nói chuyện thơ kháng chiến đã nhận xét: “Dân tộc ta từ xưa vẫn thích làm thơ, ngâm thơ. Từ Cách mạng tháng Tám, số người thích làm thơ, ngâm thơ lại càng thêm nhiều”.
Xuân Diệu, trong mục Tiếng thơ của tạp chí Văn Nghệ cũng đã có viết: “Các báo kháng chiến của chúng ta không có mấy số là không có thơ. Những bài thơ gửi về toà soạn không thể đếm bằng chục” (Xuân Diệu, Mục Tiếng Thơ, Tạp chí Văn Nghệ). Ở Nam Bộ, so với các thể loại khác, thơ cũng có nhiều thành tựu hơn cả. Sự phát triển mạnh mẽ của thơ kháng chiến ở .Nam bộ thực sự đã tạo nên một diện mạo mới trong sáng tác văn chương.
Thơ kháng chiến nói chung và thơ kháng chiến ở Nam Bộ nói riêng thành công cả về mặt số lượng và chất lượng cả ở người sáng tác và tác phẩm. Đội ngũ và phong trào Thơ kháng chiến Nam Bộ 1945 – 1954 gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Bính, Huỳnh Văn Nghệ, Xuân Miễn, Bảo Định Giang, Nguyễn Hải Trừng, Rum Bảo Việt, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Tấn, Lê Ái Tha, Việt Ánh, Viễn Phương, Hà Mậu Nhai, Truy Phong, Kiên Giang Hà Huy Hà, Mai Văn Tạo, Hồ Thiện Ngôn… Phần lớn trong họ là những cán bộ và chiến sĩ trẻ trưởng thành trong phong trào quần chúng, trong chiến đấu và sản xuất. Họ ít bị vướng víu bởi những tư tưởng, nghệ thuật cũ. Họ cũng không mặc cảm với nhân dân, cách mạng như thế hệ đàn anh 10 nên sáng tác của họ hồn nhiên, khỏe khoắn và cũng bồng bột hơn.
Chính vì vậy, thành tựu của thơ ca kháng chiến phần lớn thuộc về thế hệ các nhà thơ lớn lên với cách mạng và kháng chiến này. Có thể tạm chia các nhà thơ kháng chiến giai đoạn 1945-1954 thành hai nhóm: nhóm các nhà thơ từ vùng miền khác đến và nhóm các nhà thơ tại chỗ. Trong nhóm thứ nhất, những gương mặt nổi trội có Nguyễn Bính, Xuân Miễn, Nguyễn Ngọc Tấn… Nhóm thứ hai, gồm: Huỳnh Văn Nghệ, Hoàng Tố Nguyên, Việt Ánh… Qua sáng tác của các nhà thơ vùng miền khác, điểm đáng ghi nhận là sự hội nhập rất nhanh chóng của các nhà thơ vào công cuộc kháng Pháp của người Nam Bộ. Xuân Miễn là một trong số đó.
Là người con của mảnh đất Hà Nam thế nhưng từ 1945, Xuân Miễn đã có mặt ở trong cuộc chiến đấu của những ngày Sài Gòn tháng tám và thơ ông đi sát cuộc chiến đấu diễn ra trên mảnh đất Nam bộ. Trong thơ Xuân Miễn ta bắt gặp những vùng đất quen thuộc như: Bến Cát, Tây Ninh, Củ Chi, An Phú Đông. Tất cả đều được nhắc đến với rất nhiều cảm xúc, khêu gợi, cô đọng và tinh tế. Ngay từ những bài thơ miêu tả đầu tiên của Xuân Miễn đã đưa thơ đi sát và trực tiếp phản ánh sinh hoạt của nhân dân trong khung cảnh thanh bình, dung dị: Ruộng bỏ không cày lau lách mọc Đường mòn cỏ lấp vắng người đi Cầu nghiêng ván đổ trên sông quạnh Quạ đói kêu buồn rỉa tử thi.
Hơn ai hết ông là người sống và thấm thía nỗi khổ nhục của người dân từ đó tạo nên một sức mạnh âm ỉ, một ngọn lửa căm thù đưa ông đến những hành động chiến đấu dữ dội. Điểm thành công của nhà thơ Xuân Miễn vào những năm đầu kháng chiến là đã phát hiện được những nét thầm kín vững chãi ở những câu thơ chắc nịch, vừa có cảnh vừa có sự việc, ngắn gọn từ những lời thơ cô đúc rất mới nếu như ta mang nó so sánh với các thơ Đường luật trước đây thì không thể có được: Một tối hành quân qua xóm nhỏ 11 Mẹ già lách cửa níu bàn tay Con ơi giặc ác hơn lang sói Mẹ chỉ con đi diệt bót này Vì thế có lẽ thật hoàn toàn dễ hiểu khi ta thấy các đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích đều đem những bài thơ của Xuân Miễn để ngâm hoặc dựng hoạt cảnh trong những buổi liên hoan dưới ánh sáng của lửa trại. Thực tế cuộc sống là chất liệu để nhà thơ viết nên những bài thơ của mình. Chính vì vậy ta thấy nó rất thật và luôn giàu cảm xúc.
Thế nhưng ông không bao giờ coi đó là nguyên mẫu để rồi biến thơ thành sự mô phỏng, sao chép mà chỉ coi đó là dữ kiện còn cốt lõi của thơ là tư tưởng, tâm hồn, thế giới riêng của nhà thơ trong đó. Nhờ quan niệm đó mà khi ta đọc những bài thơ mà ông viết dù là viết về những mất mát, đau thương nhưng nó không hề bi lụy mà vẫn điềm tĩnh, tự tin chứa chan niềm tin phơi phới vào tương lai, cuộc sống. Trong nhóm các nhà thơ sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, Bảo Định Giang là cái tên cần được nhắc đến. Là người con của mảnh đất Đồng Tháp, Bảo Định Giang có những đóng góp nhất định cho nền thơ ca Nam Bộ nói chung và Đồng Tháp nói riêng.
Nếu Huỳnh Văn Nghệ là nhà thơ có đóng góp rất lớn cho tiếng thơ của vùng chiến khu Đ vào những năm đầu kháng chiến thì ở Đồng Tháp, Bảo Định Giang cho ra đời những tác phẩm khơi dậy tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc sâu sắc từ đó thúc giục lòng người kháng chiến. Thơ của ông chứa cái tình chân thành, là tiếng hát dân gian hồn hậu. Giới trẻ ngày nay chắc chắn sẽ có người nghĩ câu: Tháp Mười đẹp nhất bông sen/ Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ là câu ca dao của người xưa nhưng thực ra đó lại là một câu thơ của Bảo Định Giang. Đó là bước đầu trong quá trình chọn hướng đi cho thơ của ông.
Con đường làm thơ của ông luôn lấy tình cảm của người kháng chiến để đón nhận sự kiện, những biến thiên của cuộc đời. Hướng đi của thơ Bảo Định Giang bao giờ cũng từ hồn thơ của mình bắt rễ vào hồn thơ dân tộc và hình thức phong phú dân gian. Vì thế những năm 1946, 1947 thơ ông có một sắc thái không lẫn với thơ của người khác vì thơ lục bát của ông không mô phỏng, bắt chước, không rập khuôn những cái cũ. Trong thơ ông ta thấy nó vừa mang phong vị ca dao vừa gắn liền với thực tế cuộc 12 sống và cảm xúc.
Điều này thể hiện khá rõ trong bài thơ viết về quê hương ông: Tình Đồng Tháp: Rau dưa rau muống nở hoa Lòng người cũng nở chim ca đầu cành Hây hây nắng xế dịu lành Bờ tràm rủ bóng bên kênh so hàng Tình thương đất nước mênh mang Hồn vui như nắng dải vàng ruộng xanh (Tình Đồng Tháp – Bảo Định Giang) Dù nói đến nỗi buồn hay niềm vui, dù gian khổ hay hạnh phúc, lục bát trong thơ Bảo Định Giang vẫn mang tình cảm của một người con Đồng Tháp, và mỗi đường nét, mỗi phong vị đều hết sức chân thật, đậm đà tình tứ: Nước phèn trong vắt thủy chung Bưng sâu thấy đáy tâm tình dân quê Gái trai cất giọng trưa hè Tình xa trăng gió nghiêng về nước non. Ngoài sáng tác của các nhà thơ chuyên nghiệp, Nam Bộ cũng có phong trào sáng tác thơ ca của quần chúng rất sôi nổi như các vùng miền khác của đất nước. Các tờ báo xuất bản ở chiến khu đều có thơ của các tác giả không chuyên này. Trong số đó, có thể kể đến Người chiến sĩ của Nguyễn Văn Hiền (báo Nam Bộ kháng chiến, 1947), Trở về làng của Hoàng Phong, Câu hát tăng gia của Lương Minh, Dòng máu bốn mươi của Thanh Bình, Du kích của Huy Hà… Các bài thơ này có thể còn thô mộc, nhưng có thể nói đó chính là nền móng cho sự phát triển của thơ ca kháng chiến sau này.
Đặc điểm chính của thơ kháng chiến ở Nam bộ giai đoạn 1945 – 1954 1. Thơ ca tập trung phản ánh hiện thực kháng chiến của dân tộc Thơ ca Nam bộ giai đoạn này cũng hòa chung trong dòng chảy thơ dân tộc, đó là tập trung phản ánh công cuộc đấu tranh kháng chiến chống Pháp với nhiều khó khăn, đau khổ, hi sinh của mọi tầng lớp người dân.