MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Mục tiêu nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu - Tổng quan tài liệu .1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh .1 Địa lý tự nhiên .2 Đặc điểm kinh tế - xã hội .2 Tổng quan về phường Bình Chiểu Thành phố Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh .1 Địa lý tự nhiên .3 Tổng quan về kênh Ba Bò.
11 Chương II.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .1 Đối tượng nghiên cứu .2 Phạm vi nghiên cứu .2 Phương pháp nghiên cứu .1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu.2 Phương pháp thực hiện .3 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm.4 Phương pháp xử lý số liệu. 30 Chương III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .1 Kết quả phân tích đánh giá chất lượng môi trường nước kênh Ba Bò đoạn qua phường Bình Chiểu Tp.Thủ Đức Tp.Hồ Chí Minh .2 Đánh giá chất lượng nước kênh Ba Bò chảy qua phường Bình Chiểu Tp.Thủ Đức Tp.Hồ Chí Minh buổi sáng, trưa và tối ngày 14/11/2022 .1 Đánh giá hàm lượng Amoni (NH4+ tính theo N) .2 Đánh giá hàm lượng COD .3 Đánh giá hàm lượng Photphat (PO43-) .4 Đánh giá hàm lượng BOD5 .5 Đánh giá hàm lượng TSS .6 Đánh giá hàm lượng Coliform .7 Đánh giá hàm lượng Sắt tổng (Fe tổng) .3 Đánh giá chất lượng nước kênh Ba Bò đoạn chảy qua p.Bình Chiểu Tp.Thủ Đức thông qua chỉ số chất lượng môi trường nước WQI .4 Luận giải nguyên nhân gây ô nhiễm .5 Đề xuất một số giải pháp cải thiện chất lượng nước kênh Ba Bò .1 Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải .2 Áp dụng các công cụ kinh tế .3 Hoạt động truyền thông và sự tham gia của cộng đồng. 45 Chương IV.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 46 MỤC THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự thành công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Tuy nhiên sự gia tăng dân số cùng với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng cao đòi hỏi lượng nước cung cấp cho hoạt và các hoạt động công nghiệp ngày càng nhiều đã ảnh hưởng xấu đến nga tài nguyên này.
Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao, con người đã cố tình bỏ : tác động đến môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và nước sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn , của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước.
Hiện nay đã có rất nhiều địa phương bị ô nhiễm nguồn nước mặt nghiêm trọng, có nguy cơ cạn kiệt do hoạt động khai thác, quản lý chưa hợp lý cùng với lượng nước thải từ các khu CN, các nhà máy, khu dân cư đô thị, chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt hiệu quả mà thải ra ngoài môi trường đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe và hoạt động của con người. Vấn đề ô nhiễm sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn trong tương lai nếu như chúng ta không có các biện pháp bảo vệ và quản lý hợp lý. Nước được sử dụng cho hầu hết các hoạt động trong cuộc sống như: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Với sự phát triển kinh tế và dân số tăng nhanh thì nhu cầu sử dụng nước và thải các chất thải ra các sông hồ ngày càng nhiều gây ô nhiễm trường.
Đặc biệt là các sông, hồ ở trong thành phố, nơi có đông dân cư sinh sống và Kênh Ba Bò nằm trên địa bàn phường Bình Chiểu, TP.Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh, bắt nguồn từ đập nước của Quân đoàn 4, chảy qua rạch Cầu Đất vào rạch Vĩnh Bình và cuối cùng đổ ra sông Sài Gòn là 1 điển hình. Đây là tuyến kênh thoát nước mưa và nước thải của lưu vực phường Bình Chiểu và Linh Trung (TP.Thủ Đức); khu phố Đồng An (phường Bình Hòa, thị xã Thuận An), khu phố Tân Long (phường Tân Đông Hiệp) và một phần phường Dĩ An của thị xã Dĩ An (tỉnh Bình Dương). Mặc dù, những năm qua, TP.
Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương đã triển khai nhiều giải pháp xử lý ô nhiễm kênh Ba Bò, nhưng chất lượng nước kênh vẫn chưa được cải thiện rõ rệt. 1 Có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho sinh hoạt của con người. Ngoài ra, con kênh này cũng phải tiếp nhận chất thải sinh hoạt từ các hoạt động công nghiệp như nước thải từ khu công nghiệp và nhiều nhà máy, xí nghiệp nằm rải rác hai ở đầu nguồn kênh; đặc biệt là nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư lân cận. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đề tài “THIẾT LẬP MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC KÊNH BA BÒ ĐOẠN TỪ CẦU TỈNH LỘ 43 ĐẾN CẦU NGÔ CHÍ QUỐC BẰNG WQI” là cần thiết nhằm cung cấp các thông tin về chất lượng nước mặt trên địa bàn thành phố.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá chất lượng nước Kênh Ba Bò đoạn từ cầu Tỉnh lộ 43 đến cầu Ngô Chí Quốc Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước Kênh Ba Bò đoạn từ cầu Tỉnh lộ 43 đến cầu Ngô Chí Quốc 3. Nội dung nghiên cứu - Tổng quan tài liệu Tổng quan tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội; hiện trạng môi nói chung và Thành phố Hồ CHí Minh nói riêng ; tổng quan về Kênh Ba Bò. Khảo sát thực tế, lập kế hoạch và thực hiện quan trắc môi trường nước Kênh Ba Bò đoạn từ cầu Tỉnh lộ 43 đến cầu Ngô Chí Quốc. Trong đó lấy mẫu theo 3 đợt chia làm sáng, trưa, chiều tối, tại 5 vị trí.
Các chỉ tiêu phân tích gồm: DO, pH, Độ đục, COD, BOD, TSS, Coliform, PO4+, N-NH4, Fe tổng. Đánh giá chất lượng môi trường nước sông bằng chỉ số chất lượng môi trường nước WQI. Luận giải nguyên nhân gây ô nhiễm. Đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường nước Kênh Ba Bò đoạn từ cầu Tỉnh lộ 43 đến cầu Ngô Chí Quốc.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 1.1 Địa lý tự nhiên a.
Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông. Phía bắc giáp tỉnh Bình Dương. Phía tây giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An và Tiền Giang Phía đông giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu. Phía nam giáp Biển Đông Nằm ở phía Nam, thuộc miền Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay.
Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở Thủ Đức.
Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam – tây nam và đông nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới một mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần thành phố Thủ Đức, toàn bộ huyện Hóc Môn và Quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét. Địa chất, thủy văn Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố.
Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 ngàn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở Thành phố 3 Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi. hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.
Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò. Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch rất đa dạng. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45. Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố.
Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái.
Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc –Thị Nghè, Bến Nghé, Tàu Hủ, Kênh Tẻ, Kênh Đôi,.