CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.Khái niệm, đặc điểm và các nguyên tắc của quản lý nhà nước về môi trường nước. Quản lý nhà nước về môi trường nước là quá trình mà Nhà nước thông qua việc thực hiện các chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình để đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật và xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia. Dựa trên cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về môi trường là luật, các quy định dưới luật của các ngành chức năng và các tiêu chuẩn. Đối với các nước đang phát triển thì xây dựng một bộ máy quản lý nhà nước về môi trường có hiệu lực là một mục tiêu rất quan trọng và được chú trọng phát triển trong thực tiễn.
Một số văn bản pháp lý có liên quan đến môi trường và chất lượng nước: - Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020, hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022; - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội; - Luật Hoá chất số 06/2007/QH12; - Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường; - Nghị định số 54/2021/NĐ-CP ngày 21/5/2021 của Chính phủ Quy định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường; - Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường; - Luật Quy chuẩn và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 68//2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 ngày 29/06/2006; - Thông tư số 43/2015/TT-BTNMT ngày 29/09/2015 về Báo cáo hiện trạng môi trường và quản lý số liệu quan trắc môi trường; - Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; - Quyết định số 35/2002/QĐ-BTNMT ngày 25/06/2002 của Bộ trưởng Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường về việc công bố danh mục tiêu chuẩn Việt Nam về Môi trường bắt buộc áp dụng; 3 - Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường: bắt buộc áp dụng 05 tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường; - Các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm: +QCVN 08–MT:2015/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt; +QCVN 09-MT:2015/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất; 1.2 Một số khái niệm về nước mặt và đánh giá chất lượng nước 1.Các khái niệm cơ bản a.Nước mặt Nước mặt là nước trong sông, hồ, hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước mặt được bổ sung một các tự nhiên bởi giáng thuỷ và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất. Theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13: Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
Ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt nguồn nước Theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13: - Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. - Suy thoái nguồn nước: là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó. - Cạn kiệt nguồn nước: là Sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Chỉ số chất lượng nước Theo quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12/11/2019 của Tổng cục môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật tính toán và công bố chỉ số chất lượng nước Việt Nam (VN_WQI)) ta có khái niệm Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang điểm.
Phân loại nguồn nước mặt Có 3 loại nước mặt chính: Nước mặt vĩnh viễn (lâu năm) là loại nước có quanh năm. Bao gồm nước sông, nước đầm và nước trong hồ. Nước mặt bán vĩnh cửu (Phù du) là các vùng nước chỉ xuất hiện tại một số thời điểm nhận định trong năm bao gồm các khu vực như lạch, đầm phá và hồ nước. Nước bề mặt do con người tạo ra là nước được chứa trong các hệ thống mà con người xây dựng, tạo ra.
Đây sẽ là hồ, đạp và đầm lầy nhân tạo. Nguồn nước mặt được lấy từ sông, suối, hồ rồi chứa vào đập để sử dụng dưới dạng thủy điện, Thủy điện sử dụng nước mặt để sản xuất năng lượng phục vụ đời sống con người.Ô nhiễm nước Ô nhiễm nước là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước, gây tác động xấu đến đời sống con người và sinh vật, vi phạm tiêu chuẩn quy định cho phép nào đó. Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng lo ngại nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do con người gây nên. Môi trường nước rất dễ bị ô nhiễm, các chất ô nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn tới con người và các sinh vật khác.
Nguồn nước bị ô nhiễm thường có các dấu hiệu đặc trưng sau:Xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và cặn lắng chìm xuống đáy; thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ.); thay đổi thành phần hóa học (pH, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ, xuấthiện các chất độc hại.); lượng ô xy hòa tan (DO) trong nước giảm; các vi sinh vật thay đổi về loài và số lượng; đặc biệt là sự xuất hiện các vi khuẩn gây bệnh. Các chỉ số thường được dùng để đánh giá chất lượng môi trường nước bao gồm các chỉ số hóa lý, các chỉ số về hóa học và các chỉ số về sinh học. Các chỉ số về hóa lýnhư màu sắc, mùi, vị, độ đục, nhiệt độ pH, chất rắn lơ lửng (TSS), chất rắn hòa tan, 5 độ dẫn điện, DO, COD và BOD. Các chỉ số về hóa học bao gồm các kim loại nặng (Pb, Cu, Ni, Cd, Hg,Sn, Cr.); các hóa chất bảo vệ thực vật; các chất hóa học thông thường mà chủ yếu là các hợp chất photpho (H2PO4-, HPO42-, PO43-),các hợp chất chứa nitơ và các chất độc hại khác như dầu mỡ, chất tổng hợp, chất tẩy rửa.Các chỉ số về sinh vật chủ yếu dựa vào số lượng coliform trong nước.
Chất lượng nước mặt và các chỉ số ô nhiễm a. Chất lượng nước mặt Chất lượng nước mặt được đánh giá qua nồng độ hoặc hàm lượng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học có trong nước qua các tiêu chuẩn cho từng mục đích sử dụng. Thông thường con người sử dụng nước với 5 mục đích chính: - Nước cấp cho hoạt động sinh hoạt - Nước cấp cho sản xuất nông nghiệp - Nước cấp cho nuôi trồng thủy sản và bảo vệ đời sống hoang dã của các loài động vật - Nước cấp cho nhu cầu giải trí, thể thao dưới nước - Nước cấp cho sản xuất công nghiệp Mỗi mục đích sử dụng cần có tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá riêng về mức độ phù hợp cho nhu cầu sử dụng. Các chỉ số ô nhiễm nước Để đánh giá chất lượng nước cũng như mức độ gây ô nhiễm nước, có thể dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản và quy định giới hạn riêng của từng chỉ tiêu đó tuân theo Luật Bảo vệ môi trường quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế quy định cho từng loại nước sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Một số chỉ tiêu gây ô nhiễm nước cơ bản như sau: pH: pH là đơn vị toán học biểu thị nồng độ ion H+ có trong nước và có thang giá trị từ 0 đến 14. pH là một trong những thông số quan trọng và sử dụng thường xuyên dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước, chất lượng nước thải, đánh giá độ cứng của nước, sự keo tụ, khả năng ăn mòn. Việc xét nghiệm pH để hoàn chỉnh chất lượng nước cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật cho từng khâu quản lý rất quan trọng, hơn nữa là đảm bảo được chất lượng cho người sử dụng. Chỉ số pH < 7 thì nước có môi trường axit; pH > 7 thì nước có môi trường kiềm.
Giá trị pH thấp hay cao đều có ảnh hưởng nguy hại đến thủy sinh. 6 SS: Chất rắn lơ lửng Chất rắn lơ lửng nói riêng và tổng chất rắn nói chung có ảnh hưởng đến chất lượng nước trên nhiều phương diện. Hàm lượng chất rắn hòa tan trong nước thấp làm hạn chế sự sinh trưởng hoặc ngăn cản sự sống của thủy sinh. Hàm lượng chất rắn hòa tan trong nước cao gây làm giảm khả năng truyền ánh sáng trong nước, làm giảm quá trình quang hợp dưới nước, gây cạn kiệt tầng ôxy trong nước nên ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh như cá, tôm.
Chất rắn lơ lửng có thể làm tắc nghẽn mang cá, cản trở sự hô hấp dẫn tới làm giảm khả năng sinh trưởng của cá, ngăn cản sự phát triển của trứng và ấu trùng. Phân biệt các chất rắn lơ lửng của nước để kiểm soát các hoạt động sinh học, đánh giá quá trình xử lý vật lý nước thải, đánh giá sự phù hợp của nước thải với tiêu chuẩn giới hạn cho phép. DO- Oxy hòa tan trong nước : Oxy có mặt trong nước gồm oxy hòa tan trong không khí và oxy sinh ra từ phản ứng tổng hợp quang hoá của tảo và các thực vật sống trong nước. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa tan oxy vào nước là nhiệt độ, áp suất khí quyển, dòng chảy, địa điểm, địa hình.
Giá trị DO phụ thuộc vào tính chất vật lý, hóa học và các hoạt động sinh học xảy ra trong đó. Phân tích DO cho ta đánh giá mức độ ô nhiễm nước và kiểm tra quá trình xử lý nước thải. Các sông hồ có hàm lượng DO cao được cho là chất lượng nước tốt và có nhiều loài sinh vật sống trong đó.