Mở đầu Huyện Kaysone nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Savannakhet với diện tích 681.618 km2, trong đó diện tích đồng bằng chiếm tới 95% của tổng diện tích huyện Kaysone là một huyện đƣợc sử quan tâm và phát triển kính tế xã hội nhiều nhất trong tỉnh. Ngƣời dân trong huyện 75% làm nông nghiệp, 15% kinh doanh và 10% là cán bộ (Dự án hồ thủy lợi sông Sôm Poui năm 2013). Vùng đồng bằng của Huyện Kaysone nằm trong khu vực vũng sâu nƣớc mƣa của sông Sôm poy, Sông nhang và những sông nhỏ chi nhánh của sông Sôm Poy. Đồng bằng của Huyện Kaysone rất phủ hợp cho công việc sản xuất nông nghiệp, trong đó 70% của tổng diện tích đƣợc khai thác đề làm ruộng.
Trong công việc sản xuất nông nghiệp đã sử nƣớc từ sông Sôm poy rất nhiều vào mùa mƣa và một số nƣớc tƣới vào mùa hè. Trong năm 2004, Ủy bản sông Mê Kông quốc tế đã thực hiện nghiên cứu chất lƣợng nƣớc sông Mê Kông và các chi nhánh có kết quả chất lƣợng nƣớc từ trạm đo trên sông đạt mức độ từ rất tốt cho đến tốt. Trong công việc nghiên cứu từ đầu cho đến cƣới của dòng sông cho thấy chất lƣợng nƣớc không bị suy thoái, trừ một số đoạn chạy qua thủ đô Viêng Chăn thấy rằng nồng độ của oxy hòa tan trong nƣớc hơi thấp, độ đục trong nƣớc cao do chịu ảnh hƣởng đất bờ sông xói mòn trên đoạn đầu chạy qua thủ đô Viêng Chăn. Từ năm 1992 cho đến nay độ dục của đoạn sông chay qua thủ đô Viêng Chăn có khuynh hƣớng giảm xuống song song với việc xây dựng thủy điện Xayyabuly.
Sông Sompoy là một nhánh sông quan trọng của sông Mêkong chạy qua 1 trong 7 vùng đồng bằng lớn nhất của nƣớc, đây là nơi lƣu trữ nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, cấp nƣớc cho hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của địa bản huyện Kaisone tỉnh Savannakhet. Hiện nay, chính phủ lào nói chung và tỉnh Savannakhet nói riêng đang có xu hƣơng phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng tỉnh Savannakhet thành khu sản xuất sản phẩm nông nghiệp chính của đất nƣớc và sông Sompoy là nguồn cung cấp nƣớc chính cho khu vực sản xuất này. Vùng đồng bằng sông Sompoy có khuynh hƣớng xây dựng sản xuất lƣơng thực và sản phẩm của tỉnh, trong thời gian qua chính quyền tỉnh Savannakhet đã khảo sát nghiên cứu sử dụng tài nguyên nƣớc sông Sompoy và các nhánh của nó để phục vụ sản 1 z xuất nông nghiệp vùng đồng bằng trên, dân số tập trung trong vùng này phần lớn còn nghèo và xếp vào huyện đang phát triển của chính phủ lào, nhƣng ngƣợc lại vùng này lại có diện tích sản xuất nông nghiệp rất rộng phù hợp cho công việc trồng lúa và chăn nuôi. Để đánh giá tổng quát và định lƣợng chất lƣợng nƣớc, nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng Chỉ số chất lƣợng nƣớc (Water Quality Index - WQI).
WQI là một thông số "tổ hợp" đƣợc tính toán từ nhiều thông số chất lƣợng nƣớc riêng biệt theo một phƣơng pháp xác định. Thang điểm WQI thƣờng là từ 0 (ứng với chất lƣợng xấu nhất) đến 100 (ứng với chất lƣợng nƣớc tốt nhất). Mới đây, tại Việt Nam, ngày 01/7/2011, Tổng cục môi trƣờng đã ban hành Quyết định số 879/QĐ-TCMT về ban hành sổ tay hƣớng dẫn tính toán chỉ số chất lƣợng nƣớc áp dụng cho đánh giá hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc mặt lục địa Việt Nam. Với WQI, có thể giám sát diễn biến tổng quát về chất lƣợng nƣớc, so sánh đƣợc chất lƣợng nƣớc các sông, thông tin cho cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách hiểu về chất lƣợng nƣớc, có thể bản đồ hóa chất lƣợng nƣớc.
Với những ƣu điểm đó, hiện nay WQI đƣợc xem là một công cụ hữu hiệu quản lý nguồn nƣớc. Thực tế cho thấy việc sử dùng nƣớc sông Sôm poui mang lại rất nhiều lợi ít cho sản xuất nông nghiệp và lƣơng thực phục vụ con ngƣời, nhƣng vẫn chƣa có tài liệu nào đánh giá về chất lƣợng nƣớc của nguồn nƣớc này và trong thời gian tới chính phủ nƣớc công hòa nhân chủ nhân dân lào có quy hoạch xây dựng hồ thủy lợi để phúc vụ sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy luận văn, tiến hành đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Sôm Poui với mực tiêu và nội dung sau: Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng chất lƣợng nƣớc và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo mức độ an toàn cho mục đích sử dụng tƣới tiêu trong nông nghiệp. Trên cơ sở đó, đề tài ―Đánh giá chất lƣợng nƣớc sông Sompoy và đề xuất giải pháp đảm bảo sử dụng cho sản xuất nông nghiệp huyện Kaisone Phomvihan tỉnh Savannakhet‖ đƣợc lựa chọn với mục đích đánh giá tổng quan chất lƣợng nƣớc sông Sompoy dựa trên phƣơng pháp mới, có nhiều ƣu điểm phục vụ công tác quản lý môi trƣờng và đề xuất các biện pháp quản lý môi trƣờng nƣớc trên địa bàn tỉnh Savannakhet.
2 z CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN 1. Hiện trạng chất lƣợng nƣớc sông và sử dụng trong nông nghiệp trên thế giới và Lào 1. Hiện trạng chất lƣợng nƣớc sông và sử dụng trong nông nghiệp trên thế giới. Nƣớc mặt đƣợc sử dụng để tƣới tiêu cho các cây thực phẩm trên toàn thế giới.
Nƣớc có thể có chất lƣợng vệ sinh thay đổi và có thể bị ô nhiễm từ nhiều nguồn khác nhau. Sự liên quan của nƣớc tƣới bị nhiễm bẩn với ô nhiễm sản phẩm tƣơi đã đƣợc xác định rõ và đã có nhiều báo cáo về sự bùng nổ dịch bệnh liên quan đến tiêu thụ tƣơi. Mục tiêu của nghiên cứu này là tóm tắt dữ liệu về các chỉ số phân và các mầm bệnh đƣợc lựa chọn để đánh giá mức độ ô nhiễm phân của một con sông Na Uy đƣợc sử dụng cho việc tƣới tại một khu vực có mức sản xuất cao các loại thực phẩm khác nhau. Các nguồn ô nhiễm phân của dòng sông đƣợc xác định.
Các biện pháp thực hiện để giảm lƣợng thải từ ngành nƣớc thải và nông nghiệp và các biện pháp tiềm năng đƣợc xác định để thực hiện trong tƣơng lai đƣợc trình bày và thảo luận liên quan đến lợi ích tiềm năng và chi phí. Điều quan trọng là ngƣời sử dụng nƣớc, độc lập với mục đích sử dụng, đều nhận thức đƣợc chất lƣợng vệ sinh và các biện pháp can thiệp có thể áp dụng đƣợc. Ô nhiễm nƣớc mặt là một mạng lƣới phức tạp có nhiều yếu tố và cần phải có một số biện pháp và can thiệp ở các cấp khác nhau để đạt đƣợc một con sông vững chắc và tƣới tiêu an toàn. Nông nghiệp là ngành sử dụng nƣớc lớn nhất trên thế giới.
Mức tiêu thụ nƣớc cho tƣới tiêu đến 70% và trong một số trƣờng hợp 90% nhu cầu nƣớc trên thế giới. Do tình trạng thiếu nƣớc tăng theo thời gian do: (i) nhu cầu lƣơng thực toàn cầu tăng; (ii) đô thị hoá; (iii) thay đổi khí hậu; (iv) nƣớc chất lƣợng kém đƣợc sử dụng ở một số nƣớc - TMWW dƣờng nhƣ là một giải pháp hấp dẫn và bền vững, và do đó ngƣời ta hy vọng tái sử dụng sẽ tăng lên trong tƣơng lai gần[2]. Nhu cầu tƣới nƣớc là rất cấp thiết, khoảng 7% đất đƣợc tƣới trên toàn thế giới, tức là 20 triệu ha ở 50 quốc gia, đƣợc tƣới bằng nƣớc thô hoặc đƣợc xử lý một phần, gián tiếp hoặc trực tiếp [3]. Tuy nhiên, nhiều nƣớc tiên tiến về nông nghiệp khác lại sử 3 z dụng nƣớc thải đô thị đã xử lý.
Các ứng dụng tái sử dụng nƣớc ở Hoa Kỳ theo thứ tự giảm lƣợng nƣớc là: (1) tƣới tiêu nông nghiệp; (2) tái chế công nghiệp và tái sử dụng; (3) thủy lợi cảnh quan; (4) nạp tiền nƣớc ngầm; (5) sử dụng và giải trí; (6) sử dụng không sử dụng đƣợc ở đô thị; và cuối cùng, (7) sử dụng lại đƣợc có thể sử dụng đƣợc. Tại California, Hoa Kỳ khoảng 65% nƣớc đƣợc tái chế bằng cách tái sử dụng trong nông nghiệp [4-6]. Cũng ở Israel, khoảng 64% nƣớc thải đô thị đã xử lý hiện có đƣợc tái chế; tổng lƣợng khí thải sản xuất hàng năm là 1,7 tỷ m3 [7]. Cụ thể hơn, ở Ý việc tái sử dụng đƣợc áp dụng trong 4000 ha và chỉ giới hạn ở các đảo Sicily và Sardinia [8,9].
Hiện trạng chất lƣợng nƣớc sông và sử dụng nƣớc sông trong nông nghiệp ở Lào. Lào đang trong giai đoạn tăng trƣởng kinh tế tƣơng đối nhanh và phát triển tài nguyên thiên nhiên. Thủy điện, khai thác mỏ và lâm nghiệp là các lĩnh vực hoạt động chính, trong khi du lịch, nông nghiệp và thủy sản cũng đang phát triển và thay đổi. Các khu đô thị cũng đang phát triển do sự thay đổi dân số và phát triển thƣơng mại và công nghiệp.
Do đó, ngày càng có nhiều áp lực đối với môi trƣờng và nhu cầu ngày càng tăng về quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững[10]. Nƣớc nói chung có nhiều nguồn tài nguyên nƣớc. Tổng tài nguyên nƣớc mặt (bao gồm dòng chảy của sông Mê Kông và các chi lƣu của nó) là 55.000 m3, cao nhất ở châu Á. Tuy nhiên, chỉ có một ít nguồn nƣớc quốc gia đã đƣợc phát triển.
Tổng dung tích lƣu trữ của các hồ chứa lớn ít hơn 3% lƣu lƣợng bề mặt hàng năm[10]. Cho đến thời điểm hiện tại, trọng tâm của chất lƣợng nƣớc ở Lào đã đƣợc theo dõi chung về môi trƣờng, bảo vệ môi trƣờng liên quan đến dự án (EIAs, EMPs, vv) và nhận thức của công chúng và giáo dục. Sự phát triển nhanh chóng hiện nay của tài nguyên nƣớc và các tác động đối với các lƣu vực sông hiện đang gây ra nhiều rủi ro hơn cho sự suy giảm chất lƣợng nƣớc. Các khuyến nghị đã đƣợc đƣa ra trong các bối cảnh khác nhau để cải thiện việc giám sát chất lƣợng nƣớc, mô hình hoá và tăng cƣờng kỹ thuật khác.
Tuy nhiên, thay vì giải quyết từng khu vực yếu kém, cần phải có một cách tiếp cận có hệ thống hơn[10]. Tình hình chất lượng nước ở Lào Phòng thí nghiệm Chất lƣợng Nƣớc của Bộ Nông Lâm nghiệp cho biết, trong 15 năm theo dõi, chất lƣợng nƣớc ở Lào nói chung là tốt và không bị ảnh hƣởng đáng kể bởi các hoạt động của con ngƣời. Điều này phù hợp với nghiên cứu Chẩn đoán Sông Mekong của Ủy ban sông Mê Công, cho thấy "nƣớc ở lƣu vực sông Mê Kông nói chung có chất lƣợng tốt, nhƣng có những ngoại lệ địa phƣơng". Tuy nhiên, với áp lực tăng trƣởng nhân khẩu học nhanh, phát triển kinh tế và đô thị hóa, chất lƣợng nƣớc ngày càng xấu đi.