Chương 1. Giới thiệu chung về đất ngập nước Các vùng miền với những điều kiện khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng khác nhau đã tạo ra các vùng đất ngập nước có đặc điểm, tính chất, cảnh quan và hệ sinh thái khác nhau làm nên sự đa dạng của đất ngập nước. Định nghĩa và hệ thống phân loại đất ngập nước ra đời nhằm mục đích phục vụ cho việc quản lý và sử dụng chúng một cách hiệu quả. Rất nhiều những đề án, định nghĩa và phân loại đất ngập nước đã được đề nghị trong nhiều năm qua.
Tùy vào sự phân bố, loại hình, mục đích sử dụng và quản lý mà mỗi nơi có các định nghĩa và phân loại riêng về đất ngập nước phù hợp. Sau đây là định nghĩa và phân loại đất ngập nước có tính phổ quát: 1. Định nghĩa Theo định nghĩa của công ước Ramsar (1971): Đất ngập nước là “Khu vực đầm lầy, bùn, than bùn hoặc nước, dù là tự nhiên hay nhân tạo, vĩnh viễn hoặc tạm thời, với nước tĩnh hoặc chảy, ngọt, lợ hoặc mặn, bao gồm cả các vùng nước biển, độ sâu khi thủy triều thấp không vượt quá sáu mét”. Định nghĩa này bao gồm cả hồ và sông không kể độ sâu [7].
- Đất ngập nước là môi trường sống bị ngập lụt hoặc bão hòa bởi nước trong ít nhất một số năm. Chúng bao gồm các kiểu đầm lầy và đầm lầy than bùn cũng như các khu vực thấp khác nơi sự hiện diện của nước đứng làm thay đổi tính chất hóa học và vật lý của đất và có thể dẫn đến một số kiểu thảm thực vật nhất định [8]. - Đất ngập nước gồm nhiều loại hình từ ao, hồ, sông ngòi, đầm lầy, đồng lúa đến rừng ngập mặn phát triển trên đất lầy mặn ven biển, rừng tràm phát triển trên đất chua phèn, các đầm ao nuôi trồng thủy sản, các bãi cá, các rạn san hô…[1]. Phân loại - Theo Ramsar, có năm loại đất ngập nước chính thường được công nhận: + biển (các vùng đất ngập nước ven biển bao gồm đầm phá ven biển, bờ đá và các rạn san hô) + cửa sông (bao gồm vùng đồng bằng, đầm lầy thủy triều và đầm lầy ngập mặn) + hồ + sông (các vùng đất ngập nước dọc sông và suối) Luan van 4 + đầm lầy (bao gồm đầm lầy cây thân thảo chiếm ưu thế, đầm lầy cây thân gỗ chiếm chiếm ưu thế, đầm lầy than bùn).
Ngoài ra, còn có các vùng đất ngập nước nhân tạo như ao nuôi cá và tôm, ao nuôi, đất nông nghiệp được tưới tiêu, máng muối, hồ chứa, hố sỏi, trang trại và kênh rạch. Công ước Ramsar đã thông qua một phân loại Ramsar loại đất ngập nước bao gồm 42 loại, được chia thành ba kiểu: Vùng đất ngập nước biển và ven biển, vùng đất ngập nước nội địa và vùng đất ngập nước nhân tạo [7]. - Keddy, 2000 phân chia đất ngập nước thành 6 kiểu cơ bản bao gồm 4 kiểu đơn giản nhất là: + Đầm lầy cây thân gỗ và cây bụi (swamp); + Đầm lầy cây bụi và cỏ (marsh); + Đầm lầy thấp có sậy và cỏ trên đất than bùn nông (fen); + Đầm lầy có cây thân gỗ, cây bụi, sậy trên đất than bùn sâu (bog) và 2 kiểu mở rộng thêm là đồng cỏ ngập nước theo mùa (wet meadow) và các thuỷ vực nước nông (shallow water) [9]. - Hệ thống phân loại của Canada: đất ngập nước phân chia theo 2 tiêu chí rộng đó là: (1) Đất ngập nước trên nền đất hữu cơ (Organic wetlands); và (2) Đất ngập nước trên nền đất vô cơ (Mineral wetlands).
Hệ thống phân loại đất ngập nước của Canada được phân chia theo thứ bậc gồm có 3 bậc: 1) Lớp (Class); 2) Dạng (Form); và 3) Kiểu (Type). Lớp đất ngập nước là đơn vị phân loại cao nhất được phân chia dựa trên nguồn gốc chung của hệ sinh thái và đặc điểm tự nhiên của môi trường đất ngập nước. Theo đó, ở Canada đất ngập nước có 5 Lớp là: 1) Đầm lầy cây bụi trên đất than bùn dày (bog); 2) Đầm lầy cỏ trên đất than bùn mỏng (fen); 3) Đầm lầy cây bụi (swamp); 4) Đầm lầy cỏ (marsh); và 5) Vùng ngập nước nông (shallow water). Dạng đất ngập nước được phân chia từ các Lớp đất ngập nước dựa trên các đặc trưng về địa mạo, thuỷ văn và đất.
Một số dạng đất ngập nước có thể được phân chia nhỏ hơn thành các dạng phụ (Subform). Một số dạng đất ngập nước điển hình là: Bình nguyên Atlantic (Atlantic plateau); mép bờ biển (Beach ridge); lưu vực (Basin); vịnh vùng cửa sông (Estuarine bay water); vùng nước ven bờ hồ lớn (Lacustrine shore water); đầm phá (Lagoon); thuộc về sông (Riverine); thuộc về suối (Stream); v. Luan van 5 Kiểu đất ngập nước được phân chia từ các dạng hay dạng phụ dựa trên các đặc trưng hình thái của các quần xã thực vật. Một số kiểu đất ngập nước điển hình như: Cỏ (Grass); rừng cây gỗ cứng (Hardwood trees); rừng cây bụi hỗn giao (Mixed shrub); rừng cây lớn hỗn giao (Mixed trees); không có thực vật (Non-vegetated); sậy (Reed); thực vật bán ngập (Submerged)… Hệ thống phân loại này dựa chủ yếu trên các đặc trưng về đất, nước, thảm thực vật [9].
Một số hệ thống phân loại tại Việt Nam: - Công ước Ramsar và phân loại đất ngập nước của Việt Nam (Cục Bảo vệ Môi trường): Năm 2001, Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) đã công bố tài liệu “Các vùng đất ngập nước có giá trị đa dạng sinh học và môi trường của Việt Nam”. Trong tài liệu này, tác giả đã đưa ra một bảng phân loại đất ngập nước tạm thời để tham khảo dựa trên cách phân loại đất ngập nước của Ramsar (Classification System for “Wetland Types”). Kèm theo là danh sách 68 khu đất ngập nước đã được kiểm kê theo tiêu chí có giá trị cao về đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường của Việt Nam. Hệ thống phân loại này dựa vào Hệ thống phân loại các vùng đất ngập nước (Classification System for “Wetland Types”) của Ramsar nhưng đã được lược bỏ một số kiểu đất ngập nước không có ở Việt Nam [9].
- Hoàng Văn Thắng và Lê Diên Dực [9], dựa trên các tiêu chí vận dụng làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam (theo thứ bậc) bao gồm: 1. Tính chất của nước (mặn, lợ, ngọt); ii. Ngập thường xuyên; 2. Ngập định kỳ (chu kỳ hàng năm hoặc một số năm); 3.
Đất và địa mạo: i. Các loại đất khác nhau (than bùn, sét, cát pha, sỏi…); ii. Hình dạng, kích cỡ của đất ngập nước; Luan van 6 3. Thảm thực vật: i.
Cây gỗ, cây bụi, lau sậy, đồng cỏ…; ii. Mức độ ưu thế của các loại hình thảm thực vật; 4. Sự tác động của con người: i. Không có tác động hoặc tác động ít (đất ngập nước tự nhiên); ii.
Được hình thành do tác động của con người mà có (đất ngập nước nhân tạo). đề xuất hệ thống phân loại đất ngập nước Việt Nam gồm 2 hệ thống: - Đất ngập nước tự nhiên gồm: + Đất ngập nước ven biển và biển (12 kiểu) + Đất ngập nước nội địa (19 kiểu) - Đất ngập nước nhân tạo + Biển và ven biển (2 kiểu) + Nội địa (8 kiểu) 1. Vai trò của đất ngập nước Đất ngập nước là một trong những môi trường hiệu quả nhất thế giới. Đó là cái nôi của đa dạng sinh học, cung cấp nước và năng suất chính và là nơi quyết định sự sống còn của vô số loài thực vật.
Chúng là môi trường sống của rất nhiều các loài chim, động vật có vú, bò sát, lưỡng cư, cá và các loài không xương sống. Đất ngập nước cũng là kho vật liệu di truyền quan trọng. Ví dụ, lúa là một loại cây trồng đất ngập nước phổ biến, là nguồn lương thực chính của hơn một nửa nhân loại [7]. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng các hệ sinh thái cung cấp ít nhất 33 nghìn tỷ đô la các dịch vụ hàng năm, trong đó khoảng 4,9 nghìn tỷ đô la là do các vùng đất ngập nước [7].
Các hệ sinh thái đất ngập nước đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, đó còn là nơi giúp bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, vui chơi giải trí phục vụ đời sống xã hội. Các hệ sinh thái đất ngập nước cũng là nơi có tiềm năng lớn để sản xuất và cung cấp các nguồn năng lượng xanh, sạch, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh. Đồng thời, sự phong phú của các loài động vật, thực vật còn có vai trò rất quan trọng về tinh thần và văn hóa truyền Luan van 7 thống của các dân tộc bản địa, đặc biệt đối với cộng đồng có cuộc sống dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu.
Đa dạng sinh học ở vùng biển và vùng đất ngập nước nội địa không chỉ là vấn đề cốt lõi trong sinh kế hướng tới sự thịnh vượng, mà còn được xem như là vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước, chất lượng rừng, chất lượng ổ sinh thái bị biến đổi trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay. Thực vật trong vùng đất ngập nước có thể hấp thụ phân bón, thuốc trừ sâu độc hại, kim loại nặng và các chất độc khác từ các hoạt động công nghiệp giúp làm sạch và lọc nước thải [10]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, đất ngập nước mặc dù chỉ chiếm 6 – 8% diện tích bề mặt Trái đất tuy nhiên có thể làm giảm những tác động từ biến đổi khí hậu. Các vùng đất than bùn lưu trữ lượng carbon gấp đôi so với tất cả các khu rừng trên thế giới.
Khí CO2 được đồng hóa thành các hợp chất hữu cơ chứa carbon thông qua quá trình quang hợp của thực vật. Carbon hữu cơ sẽ được chuyển hóa thành các dạng khác nhau trong các chu trình dinh dưỡng ở các bậc dinh dưỡng. Một phần các hợp chất hữu cơ được sinh vật sử dụng như các hợp chất cung cấp năng lượng, qua quá trình hô hấp, carbon trong các hợp chất hữu cơ được phân giải thành CO2, phóng thích lại môi trường. Carbon dạng hữu cơ trong sinh vật có thể theo con đường phân hủy của sinh vật phân giải, trở lại dạng vô cơ.
Con đường chuyển hóa sinh học diễn ra nhanh, lượng hấp thụ và phóng thích tương đối cân bằng, là yếu tố duy trì hàm lượng CO2 trong khí quyển. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Nếu giảm nguồn hấp thụ CO2 chủ yếu là thực vật, sự chuyển hóa vật chất sẽ nghiêng về hướng phân giải sẽ làm tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển [11].