MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu…; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”. Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 đã được triển khai ở các cấp học tại Việt Nam từ năm học 2020 – 2021 theo mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất của người học. Để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi các môn học trong đó có môn học Lịch sử và Địa lí – môn học mới ở cấp THCS phải đảm bảo yêu cầu đổi mới PPDH và KTĐG.
Thông tư 32 – Điều lệ và các trường Trung học nêu rõ: “Học sinh được kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo quy chế đánh giá và xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo” và “Việc kiểm tra, đánh giá học sinh được thực hiện theo quy định của chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; bảo đảm tính toàn diện, công bằng, trung thực, khách quan, vì sự tiến bộ của học sinh, coi trọng việc động viên khuyến khích học sinh tiến bộ; chú trọng đánh giá quá trình học tập của học sinh; đánh giá bằng nhiều phương pháp, hình thức, kỹ thuật và công cụ khác nhau; không so sánh học sinh này với học sinh khác và không gây áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh” [5]. Đổi mới KTĐG phải nhằm tạo động lực thúc đẩy đổi mới toàn diện về PPDH, quản lý, cách thức tổ chức hoạt động dạy học, góp phần phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS. Dạy học phát triển phẩm chất và năng lực HS ngoài góp phần phát triển năng lực chung còn hướng đến phát triển các năng lực môn học. Trong DHLS, năng lực lịch sử gồm ba thành tố: tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tư duy lịch sử và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
Ba thành tố này biểu hiện cho các mức độ của việc nhận thức lịch sử, trong đó thành tố năng lực nhận thức và tư duy lịch sử có tầm quan trọng giúp HS nhận thức được bản chất của vấn đề lịch sử thông qua các thao tác của quá trình tư duy: mô tả, giải thích, phân tích, so sánh, nhận xét, đánh giá… sự kiện, hiện tượng lịch sử. Để phát triển thành tố năng lực nhận thức và tư duy lịch sử, có thể sử dụng đa dạng nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học, trong đó có phương pháp sử dụng bộ HSHT. Bộ HSHT thực chất là một hợp các minh chứng thu thập về kết quả quá trình học tập của HS trong một giai đoạn nhất định, được sử dụng như một công cụ dùng để đánh giá năng lực của HS, đặc biệt là thành tố năng lực nhận thức và tư duy lịch sử. Thiết kế và sử dụng HSHT vừa được xem như một PPDH vừa được xem như một phương pháp KTĐG có tầm quan trọng giúp HS học sâu, nắm vững nội dung kiến thức của bài học, qua thiết kế hồ sơ HS có thể thể hiện được năng lực của mình, đồng thời cũng bộc lộ được thái độ, phẩm chất, nhân cách của người học trong học tập,… Lịch sử không chỉ là một môn học để học về quá khứ mà còn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục và phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh.
Thực tế, việc dạy học môn Lịch sử và Địa lí trong Chương trình GDPT 2018 đã thực hiện với lớp 7 đặt ra những yêu cầu mới, trong đó phần Lịch sử Việt Nam có những nội dung quan trọng về quá trình khôi phục và dựng nền độc lập của các triều đại phong kiến. Tuy nhiên, nhìn chung GV còn lúng túng với việc thực hiện chương trình mới, môn học mới theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất của HS, với việc đổi mới PPDH và KTĐG, đặc biệt là phương pháp sử dụng HSHT. GV chưa nhận thức đúng về phương pháp sử dụng HSHT, hầu như chưa vận dụng phương pháp này trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí,… Lịch sử Việt Nam trong chương trình môn học Lịch sử và Địa lí 7 là một trong những giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc. Bắt đầu bằng chiến thắng Bạch Đằng đã chấm dứt ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, đặc biệt là ách đô hộ của quân Nguyên.
Ngô Quyền dựng nền độc lập, tạo ra nền tảng căn bản cho công cuộc phát triển đất nước sau này. Các vương triều Ngô – Đinh – Tiền Lê đã hoàn thành sự nghiệp khôi phục nền độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng chính quyền quân chủ và đặt nền móng cho thời kì phục hưng mạnh mẽ của dân tộc. Tiếp theo là các triều đại Lý – Trần – Hồ xây dựng và phát triển đất nước. Các triều đại này cũng đã tiến hành các cuộc đấu tranh chống lại xâm lược từ phương Bắc, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Việc tìm hiểu về lịch sử không chỉ giúp học sinh có kiến thức mà còn phát triển năng lực đặc thù – năng lực phẩm chất và tư duy. Điều này góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông. Trường THCS Lê Lợi là một ngôi trường nằm ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, điều kiện cơ sở vật chất, năng lực của GV và HS còn có những hạn chế, đặc biệt là việc tiếp cận với những PPDH và KTĐG mới càng đòi hỏi GV và HS cần đổi mới mạnh dạn vận dụng những PPDH mới như phương pháp sử dụng HSHT để thực hiện thành công chương trình GDPT 2018. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Thiết kế và sử dụng bộ hồ sơ học tập nhằm phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7, trường Trung học cơ sở” để làm đề tài nghiên cứu với mong muốn góp phần thực hiện tốt mục tiêu của chương trình GDPT 2018 và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Bộ hồ sơ học tập là một công cụ giáo dục mà nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quốc tế quan tâm và khuyến khích sử dụng để nâng cao chất lượng dạy học. Trong luận văn của mình, chúng tôi tìm hiểu thông qua một số tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Nhóm tác giả Tahriri, Khalili và Aeineh (2014) trong Tạp chí Nghiên cứu về Giáo dục và Văn học đã nghiên cứu về hiệu quả của HSHT. Nhóm tác giả cho rằng, HSHT cung cấp cơ hội cho người học tự đánh giá bản thân thường xuyên.
GV có thể giới thiệu hồ sơ học tập trong lớp học để giúp HS nhận thức được quá trình học tập của họ [30].Vagin trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học” (1978), Nxb Giáo dục Matxcơva (tài liệu dịch) đã đề cập đến nhiều phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học trong môn Lịch sử như: phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử vào dạy học…[29] Nhà giáo dục học N.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” (1973), NXB Giáo dục (tài liệu dịch). đã đề cập đến vai trò của các phương tiện dạy học (yếu tố môi trường) trong quá trình dạy học. Do tính đa dạng của kiến thức, lại với đặc điểm của tri thức lịch sử là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống,… nên việc tham khảo các tài liệu để làm cho nội dung bài giảng thêm hấp dẫn và hứng thú với HS là rất quan trọng, đây cũng chính là cách thức tạo động cơ học tập và tăng thêm tính tích cực chủ động từ phía HS [41]. Nghiên cứu của Cimer về “Tác động của HSHT đối với việc học của HS: nhìn từ quan điểm của sinh viên sư phạm” (2011) về hiệu quả HSHT.
Nghiên cứu cho thấy, HSHT là một công cụ hữu dụng trong việc cải thiện việc học của HS. Tuy nhiên, điều này không thể có được nếu HSHT chỉ là một thư mục để thu thập công việc của HS. Hai yếu tố giúp một HSHT có giá trị là sự tự phản hồi và đánh giá thường xuyên thông qua các bài kiểm tra hàng tuần. Qua sự tự phản hồi của HS được thực hiện thông qua việc cung cấp hướng dẫn thích hợp của GV.
Nghiên cứu còn chỉ ra rằng nếu HS còn hạn chế hoặc không có sự hiểu biết về tự phản hồi thì hiệu quả học tập của HS sẽ không cao [45]. Tác giả Olson (1991) đã đưa ra quan niệm về HSHT. Ông cho rằng, một HSHT ban đầu được xác định là một tập hợp gồm những giấy tờ rời hoặc bản in để cầm tay, đồng nghĩa là để thực hiện và HSHT liên quan đến các trang hoặc tờ giấy. Ngày nay, HSHT đề cập đến một bộ sưu tập lớn các dữ liệu, chẳng hạn như văn bản, hình ảnh, giấy tờ, sản phẩm học tập, âm thanh hoặc băng hình [46].
Cùng vào năm 1991, nhóm tác giả Paulson và Mayer đưa ra quan niệm HSHT là một bộ sưu tập có mục đích các công việc của HS thể hiện những nỗ lực, tiến bộ và thành tích của HS trong một hoặc nhiều lĩnh vực. HSHT phải bao gồm sự tham gia của HS trong việc lựa chọn nội dung, tiêu chí lựa chọn, tiêu chí đánh giá sự nỗ lực và bằng chứng về sự tự phản hồi của HS [42]. Năm 1992, De Fina đã so sánh giữa đánh giá qua HSHT và bài kiểm tra chuẩn hóa, qua đó cho thấy những ưu điểm của đánh giá qua HSHT so với đánh giá bằng bài kiểm tra chuẩn hóa [34, tr33]. Năm cuối thế kỉ XX, theo Simon và Forgette-Girous (2000) khuyến khích HSHT nên chọn các sản phẩm ngoại khóa, cung cấp bằng chứng về các khía cạnh nhận thức, hành vi, tình cảm, siêu nhận thức và phát triển của một năng lực đơn lẻ nhưng phức tạp như giải quyết vấn đề hoặc giao tiếp hiệu quả [47].
Tác giả Helen C Barrett (1999) đã nhấn mạnh về vai trò của HSHT. HSHT cung cấp một “bức tranh phong phú hơn” về học tập và năng lực của HS. Việc đánh giá qua HSHT rất thuận lợi khi CNTT phát triển [37]. Năm 2003, Birgin đã quan niệm HSHT là tập tài liệu về kĩ năng của HS trong một hoặc nhiều lĩnh vực trong một khoảng thời gian nhất định, thu thập thường xuyên các nghiên cứu và hiệu suất của HS theo các tiêu chí đã định trước [43].