MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay, ngành Giáo dục và Đào tạo có nhiệm vụ to lớn và hết sức nặng nề đó là đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao để xây dựng phát triển đất nƣớc. Để thực hiện nhiệm vụ này, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, nội dung chƣơng trình và sách giáo khoa ở mọi bậc học, thì việc đổi mới phƣơng pháp dạy học đã trở thành vấn đề cấp thiết đƣợc các ngành các cấp quan tâm. Vai trò quan trọng và sự cần thiết của việc đổi mới phƣơng pháp dạy học nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện của nhà trƣờng đã đƣợc thể chế hóa trong Luật Giáo dục sửa đổi- 2005 “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [8].
Sự phát triển của giáo dục đòi hỏi phải đổi mới việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ một cách toàn diện, theo kịp thực tế sản xuất và đời sống trong xã hội. Nghị quyết TW khóa VII đã ghi rõ “Đổi mới phương pháy dạy và học ở tất cả các cấp học và bậc học kết hợp tốt việc học với hành, học tập với lao động sản xuất. Thực nghiệm và nghiên cứu khoa học gắn nhà trường và xã hội. Áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo,năng lực giải quyết vấn đề”.
Nghị quyết TW2 khóa VIII cũng đã chỉ rõ “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học. Trong thực tế hoạt động giáo dục phổ thông hiện nay, đổi mới phƣơng pháp dạy học ở tất cả các bộ môn, trong đó đổi mới phƣơng pháp dạy học môn Vật lý (VL) là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm nhiều, đặc biệt 1 việc phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ cho ngƣời học là một nhiệm vụ giáo dục quan trọng của nhà trƣờng phổ thông. Trong những năm qua đã có một số luận văn nghiên cứu về vấn đề phát huy nhận thức tích cực, tự lực cho học sinh nhƣ: 1- Nguyễn Thị Mai Anh: Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh lớp 10 THPT qua giải bài tập Vật lí bằng phương pháp véc tơ, (Luận văn thạc sĩ - Trƣờng Đại học Thái Nguyên 2002) 2- Nguyễn Thị Huyền: Xây dựng tiến trình dạy học chương “Từ trường” (vật lý 11 cơ bản) nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực và sáng tạo của học sinh miền núi (luận văn thạc sĩ ĐH Sƣ phạm Thái Nguyên - 2010) 3- Nguyễn Thế Giang: Thiết kế tiến trình hoạt động dạy học các kiến thức phần “Sự chuyển thể của các chất” (sgk vật lý 10 cơ bản) theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh (luận văn thạc sĩ – ĐH Sƣ Phạm Thái Nguyên 2010).
Các luận văn này đã nghiên cứu vấn đề tổ chức hoạt động dạy học trong dạy học một số kiến thức thuộc chƣơng trình vật lý phổ thông. Tuy nhiên thực trạng dạy học vật lí ở các trƣờng phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế, nhƣ khi thiết kế bài dạy đôi khi giáo viên xác định mục đích yêu cầu còn chung chung, chƣa làm rõ đƣợc yêu cầu của phƣơng pháp dạy học cần thực hiện. Mặt khác, khi thiết kế bài học chƣa thật chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, vẫn còn tình trạng đọc chép, truyền thụ kiến thức một chiều, ít sử dụng đồ thí nghiệm dụng cụ trực quan trong giờ học.Vì vậy chƣa phát huy đƣợc hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong giờ học, chất lƣợng dạy học môn Vật lí chƣa cao. Vật lí là môn khoa học thực nghiệm nên sẽ có nhiều điều kiện phát huy tính tích cực, tự chủ cho học sinh giúp học sinh đạt đƣợc kết quả cao hơn trong học tập.
Để đạt đƣợc điều đó, mỗi giáo viên phải biết kết hợp các 2 hình thức tổ chức, các phƣơng pháp dạy học và sử dụng các phƣơng tiện dạy học một cách hợp lí để thiết kế bài dạy đạt chất lƣợng tốt. Trong chƣơng trình vật lý trung học phổ thông (THPT) chƣơng “ Chất rắn và chất lỏng ” là chƣơng có vai trò quan trọng với phần kiến thức trọng tâm, gắn liền với thực tế, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tích cực hơn. Xuất phát từ những lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Thiết kế tiến trình dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể” Vật lí 10 cơ bản nhằm phát huy hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của người học” 2.Mục đích nghiên cứu Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức trong chƣơng “Chất rắn và chất lỏng.
Sự chuyển thể” Vật lí 10- THPT nhằm phát huy hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ cho học sinh THPT. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu. Dạy học vật lý ở trƣờng trung học phổ thông.
Đối tượng nghiên cứu. Hoạt động dạy và học vật lý khi dạy học các kiến thức chƣơng “ Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể ” ở trƣờng trung học phổ thông. Giả thuyết khoa học Nếu vận dụng cơ sở lí luận về thiết kế tiến trình dạy học vật lý cùng với việc phân tích nội dung kiến thức cần dạy chƣơng “Chất rắn và chất lỏng.
Sự chuyển thể” vật lý 10- cơ bản thì có thể tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục đích của đề tài,nghiên cứu đã xác định những nhiệm vụ chính sau đây: 3 - Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học về thiết kế tiến trình hoạt động dạy học vật lý nhằm phát huy hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ cho học sinh. - Điều tra thực tiễn hoạt động dạy học Vật lí ở trƣờng trung học phổ thông. - Nghiên cứu chƣơng trình sách giáo khoa Vật lí lớp 10, nội dung kiến thức chƣơng “ Chất rắn và chất lỏng.
Sự chuyển thể “ Vật lý 10, vận dụng cơ sở lí luận dạy học hiện đại để thiết kế tiến trình dạy học nhằm phát huy hoạt động nhận thức,tự chủ của học sinh. - Thực nghiệm sƣ phạm nhằm kiểm tra giả thuyết, đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc dạy và học. Nêu đƣợc các kết luận về ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Giới hạn đề tài Nghiên cứu một số kiến thức trong chƣơng “chất rắn và chất lỏng.
Sự chuyển thể” Vật lý 10 để phát huy hoạt động nhận thức tích cực cho học sinh THPT. - Kiến thức “ chất rắn kết tinh, chất rắn vô định hình ”; - Kiến thức “ biến dạng cơ của vật rắn ”; - Kiến thức “ sự nở vì nhiệt của vật rắn”.Phƣơng pháp nghiên cứu 7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận - Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết, các văn bản pháp lý về đổi mới PPDH ở trƣờng phổ thông. - Nghiên cứu cơ sở lí luận về thiết kế tiến trình hoạt động dạy học nhằm phát huy hoạt động nhận thức tích cực tự chủ của học sinh. - Nghiên cứu chƣơng trình, nội dung chƣơng “Chất rắn và chất lỏng.
Sự chuyển thể”.2 Phương pháp điều tra - Điều tra thực trạng việc dạy và học chƣơng “ Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể”.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm - Kiểm tra giả thuyết và hoàn thiện các tiến trình dạy học, có sử dụng thống kê toán học.Những đóng góp của luận văn - Các tiến trình dạy học đã thiết kế và phân tích thực nghiệm khi dạy học chƣơng “ Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể ” vật lý 10 có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên ở các THPT. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO HƢỚNG PHÁT HUY HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TÍCH CỰC, TỰ CHỦ CỦA HỌC SINH 1.
Hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh 1. Tính tích cực nhận thức 1.1 Khái niệm tính tích cực nhận thức Học tập là một quá trình của nhận thức, thực hiện dƣới sự chỉ đạo, tổ chức hƣớng dẫn của giáo viên vì vậy tính tích cực học tập thực chất là tính tích cực nhận thức( TTCNT) hay hoạt động nhận thức tích cực. GS TSKH Thái Duy Tuyên quan niệm “ tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tƣơng tác với đối tƣợng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí ( nhƣ hứng thú, chú ý, ý chí…) nhằm đạt đƣợc mục đích đặt ra với mức độ cao” [15]. Nhƣ vậy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh là một hiện tƣợng sƣ phạm biểu hiện ở sự cố gắng hết sức cao về nhiều mặt trong hoạt động nhận thức của trẻ nói chung.
Tính tích cực hoạt động học tập là sự phát triển ở mức độ cao hơn trong tƣ duy, đòi hỏi một quá trình hoạt động "bên trong" hết sức căng thẳng với một nghị lực cao của bản thân, nhằm đạt đƣợc mục đích là giải quyết vấn đề cụ thể nêu ra.2 Biểu hiện của tính tích cực nhận thức * Tính tích cực của nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thế đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phƣơng tiện, vừa là điều kiện để đạt đƣợc mục đích vừa là kết quả của hoạt động. Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân. 6 Tuỳ theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lí nào và mức độ huy động những chức năng tâm lí đó mà ngƣời ta phân ra ba loại tính tích cực: - Tính tích cực tái hiện, bắt chước: tính tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ và tƣ duy tái hiện.
Học sinh tích cực bắt chƣớc hoạt động của GV, của bạn bè. - Tính tích cực tìm tòi: đƣợc đặc trƣng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức. óc sáng tạo, lòng khoa khát hiểu biết, hứng thú học tập.HS tìm cách độc lập giải quyết bài tập nêu ra,mò mẫm những cách giải khác nhau để tìm ra lời giải hợp lí nhất.