ĐẶT VẤN ĐỀ Nước là một thành phần không thể thiếu trong cuộc sống, nước duy trì sự sống của con người và sinh vật. Sự sống gắn liền với sự hiện diện của nước, ở đâu có sự sống thì ở đó phải có nước. Nước rất cần thiết cho nhu cầu vệ sinh cá nhân, vệ sinh cộng đồng, trong xã hội, trong cứu hỏa và trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,. Nước còn dùng trong giao thông đường thủy, phát triển du lịch.
Con người sử dụng sức nước và dòng chảy để tạo ra năng lượng thủy điện, làm mát các nhà máy điện hạt nhân và các trạm năng lượng. Bên cạnh những vai trò thiết thực đó, nước là nguồn chứa độc chất và lan truyền mầm bệnh, dịch bệnh gây nguy hại cho sức khỏe con người và sinh vật sống. Vì vậy, cần phải có nguồn nước sạch cung cấp cho con người. Nước trong thiên nhiên được dùng làm các nguồn nước cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt và công nghiệp thường có chất lượng rất khác nhau.
Các nguồn nước mặt thường có độ đục, độ màu và hàm lượng vi trùng cao. Các nguồn nước ngầm thì hàm lượng sắt và mangan thường vượt quá giới hạn cho phép. Có thể nói, hầu hết các nguồn nước thiên nhiên đều không đáp ứng được yêu cầu về mặt chất lượng cho các đối tượng dùng nước. Hiện nay, tuy tài nguyên nước bề mặt của nước ta tương đối dồi dào, nhưng đó không phải là nước sạch để dùng cho ăn uống, sinh hoạt vì nước sông, suối, ao hồ đều đang bị ô nhiễm nặng.
Kể cả nước ngầm nhiều nơi hiện nay cũng đang trở nên ô nhiễm và thiếu do bị khai thác quá mức. Nước mưa cũng có nguy cơ bị ô nhiễm do một số nguyên nhân như không khí ô nhiễm, việc thu hứng để lấy nước mưa không đảm bảo. Chính vì vậy, trước khi đưa vào sử dụng cần phải tiến hành xử lý chúng [3]. Huyện Tuy Phong thuộc tỉnh Bình Thuận là huyện nằm trong vùng khô hạn nhất nước ta, với những đặc trưng cơ bản là mưa ít, nắng, gió nhiều và không có mùa đông giá rét.
Việc cấp nước cho huyện Tuy Phong và các vùng lân cận hiện chủ yếu dựa vào các nguồn 9 “Thiết kế quy trình công nghệ nhà máy xử lý nước cấp tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với công suất 46 000 m3/ngày đêm” nước từ sông Lòng Sông và suối Đá Bạc. Do đặc điểm địa hình bị chia cắt mạnh, các sông suối đều ngắn và dốc, diện tích lưu vực sông nhỏ nên thường gây ra lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô. Không chỉ vậy, nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện không phong phú, chỉ có khả năng khai thác đáp ứng một phần cho nhu cầu sinh hoạt. Trữ lượng nước ngầm cũng biến đổi theo từng khu vực, vùng ven biển nước ngầm bị nhiễm mặn.
Để đáp ứng nhu cầu nước sạch cho người dân trong sinh hoạt hằng ngày cũng như tăng thêm nguồn nước cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, đẩy mạnh hoạt động kinh tế - xã hội của huyện Tuy Phong thì cần phải khảo sát và đầu tư xây dựng một nhà máy xử lý nước tập trung là việc cần thiết. Do đó đề tài “Thiết kế quy trình công nghệ nhà máy xử lý nước cấp tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với công suất 46 000 m3/ngày đêm” được thực hiện. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Thiết kế quy trình công nghệ nhà máy xử lý nước cấp tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với công suất 46 000 m3/ngày đêm, nhằm giải quyết vấn đề thiếu nước vào mùa khô và đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch của người dân trong huyện. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Giải quyết vấn đề thiếu nước sạch ở huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Đẩy mạnh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Nền nông nghiệp, công nghiệp phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế - xã hội của huyện Tuy Phong phát triển, đời sống của người dân được cải thiện. Tạo tiền đề cho các dự án, đầu tư từ các ngành, các cấp và trung ương.
10 “Thiết kế quy trình công nghệ nhà máy xử lý nước cấp tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với công suất 46 000 m3/ngày đêm” CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN 2. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Huyện Tuy Phong nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Thuận, có đường ranh giới giáp với tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Lâm Đồng. Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Liên Hương, cách thành phố Phan Thiết 90 km về phía Bắc.
Vị trí đất đai của huyện nằm ở tọa độ địa lý từ 110 17’30” đến 110 37’30’’ vĩ độ Bắc và từ 108030’đến 1080 52’30’’ kinh độ Đông. • Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. • Phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông. • Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận và huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Trong số 12 đơn vị hành chính của huyện, chỉ có hai thị trấn thuộc vùng đồng bằng, 10 xã thuộc vùng cao, miền núi và trung du (bao gồm: một xã vùng cao là Phan Dũng, bốn xã miền núi là Phong Phú, Vĩnh Hảo, Vĩnh Tân , Phú Lạc và năm xã còn lại là trung du). 11 “Thiết kế quy trình công nghệ nhà máy xử lý nước cấp tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với công suất 46 000 m3/ngày đêm” Hình 2. Bản đồ huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Địa hình Chia làm ba vùng: vùng núi trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển. Miền núi trung du chiếm 2/3 diện tích tự nhiên, chủ yếu là đồi núi thấp, phân bố trải dài theo lãnh thổ ở phía Tây của huyện.
Đồng bằng tập trung ở các xã Phú Lạc, Phước Thể, Hòa Minh, Vĩnh Hảo và thị trấn Liên Hương. Đồng ruộng phần lớn nằm dọc theo sông Lòng Sông và một phần của sông Lũy. Do địa hình thấp dần về phía biển nên rất thuận lợi cho việc thiết kế hệ thống tưới tiêu cho đồng ruộng. Vùng ven biển, xung quanh các đầm nước tự nhiên là vùng trồng cây ăn quả quanh năm xanh tốt.
Mùa nào cũng có rau xanh, quả ngọt, cung cấp cho địa phương một nguồn thực phẩm dồi dào, chất lượng tốt [8]. Điều kiện khí hậu Tuy Phong là một huyện nằm trong vùng khô hạn nhất nước ta, khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô kéo dài từ đầu tháng 12 năm 12 “Thiết kế quy trình công nghệ nhà máy xử lý nước cấp tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với công suất 46 000 m3/ngày đêm” trước đến cuối tháng 5 năm sau, nhưng trên thực tế mùa mưa chỉ tập trung vào ba tháng 8, 9 và tháng 10, vì vậy mùa khô ở đây thường kéo dài. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 500 – 800 mm/năm, thuộc loại thấp nhất nước.
Đặc biệt, trong các tháng 12, 1, 2, 3, 4 hằng năm thời tiết nắng hanh, gió lớn, lượng bốc hơi nước cao, hình thành các vật liệu dễ cháy trong rừng và đây là thời điểm thường xảy ra cháy rừng. Nhìn chung, các yếu tố khí hậu thời tiết có những mặt thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, cho phép bố trí đa dạng hóa cây trồng vật nuôi. Nhưng bên cạnh những mặt thuận lợi, các thông số về khí hậu thời tiết cũng phản ánh khó khăn lớn nhất là tình trạng khô hạn kéo dài, thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và đời sống trong suốt mùa khô, không đáp ứng được yêu cầu tăng vụ và tăng năng suất cây trồng. Nghiên cứu xây dựng hệ thống thủy lợi để giữ nước và phân phối nước là nhiệm vụ đặt ra hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của huyện [13].
Địa chất Vùng ven biển thuộc các xã, thị trấn: Liên Hương, Phước Thể, Bình Thạnh, Chí Công, Vĩnh Tân, Hòa Phú: cấu tạo bởi cuội, cát, sét kết và các thành tạo bờ rời. Vùng Phan Dũng: phần thấp là đá trầm tích biển, phần giữa là đá trầm tích lục nguyên, phần trên là thành tạo lục địa. Địa bàn thuộc các xã Phong Phú, Phú Lạc, Vĩnh Hảo,… tạo bởi đá xâm nhập. Thủy văn • Nguồn nước mặt: Trên địa bàn huyện Tuy Phong, có các sông, suối lớn chảy qua là sông Lòng Sông dài 53 km và suối Đá Bạc dài 14 km.
Trong những năm qua, công tác nghiên cứu khai thác sử dụng nguồn nước mặt từ các sông suối nói trên đã được các ngành, các cấp quan tâm. Hồ sông Lòng Sông, hồ Đá Bạc và đập Tà Uông là những công trình thủy lợi giải quyết cơ bản nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân các xã vùng phía Bắc huyện. Vùng phía Nam huyện có đoạn sông Lũy chảy qua, nhưng ngắn và 13 “Thiết kế quy trình công nghệ nhà máy xử lý nước cấp tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận với công suất 46 000 m3/ngày đêm” gần cửa biển nên thường bị nước mặn xâm nhập, không đáp ứng được nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt. Do đặc điểm địa hình chia cắt mạnh, các sông suối đều ngắn và dốc, diện tích lưu vực nhỏ nên thường gây ra lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô.
• Nguồn nước ngầm: Theo tài liệu điều tra của chương trình nước sinh hoạt nông thôn, nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện không phong phú, chỉ có khả năng khai thác đáp ứng một phần cho nhu cầu sinh hoạt. Trữ lượng nước ngầm cũng biến đổi theo từng khu vực. Vùng ven biển, nước ngầm bị nhiễm mặn. Nghiên cứu, giải quyết nguồn nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp đối với huyện Tuy Phong là nhiệm vụ đặt ra hết sức quan trọng cho cả giai đoạn trước mắt và lâu dài.
Đồng thời, đẩy mạnh tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn [13]. Điều kiện kinh tế - xã hội Dân số Theo thống kê năm 2015, dân số toàn huyện là 141.331 người với mật độ là 178 người/km2. Thành phần dân tộc: chủ yếu là người Kinh (chiếm khoảng 94% dân số), sống rải rác ở khắp các xã và thị trấn. Dân tộc Chăm chiếm 5,4% dân số, chủ yếu tập trung ở xã Phú Lạc, các dân tộc Cơ Ho, Raglai tập trung chủ yếu ở xã Phan Dũng và một số dân tộc khác như: Tày, Nùng, Hoa,… chiếm chưa đến 1% dân số.