CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH GIẶT ŨI Hàm lượng ô nhiễm các chất hữu cơ sẽ làm giảm oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng đến sự sống các loài thuỷ sinh. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGĂN NGỪA VÀ GIẢM THIỂU Ô NHIỄM: 1) Phương pháp thay thế: Thay thế các chất hóa học sử dụng ở các công đoạn khác nhau: + Thay thế xà phòng chế từ các chất béo bằng chất tẩy rửa tổng hợp có thể giảm tối đa lượng BOD là 30% + Thay thế Na 2 CO 3 bằng chất tẩy rửa tổng hợp làm giảm độ kiềm cao. 2) Phương pháp giảm thiểu: Quản lý sản xuất tốt có thể giảm thiểu BOD từ 5-10%. Giảm yêu cầu sử dụng nước bằng thường xuyên kiểm tra hệ thống nước cấp, tránh rò rỉ nước.
Sử dụng modun giặt tẩy hợp lý. Tự động và tối ưu hóa quá trình giặt. Tuần hoàn sử dụng lại các dòng nuớc giặt ít ô nhiễm và nước làm nguội. Hạn chế sử dụng hóa chất trợ, thuốc giặt, thuốc tẩy ở dạng độc hay khó phân hủy sinh học.
Nên sử dụng các hóa chất thuốc giặt, thuốc tẩy ít ảnh hưởng đến môi trường. Giảm chất ô nhiễm nước thải trong quá trình tẩy. Các phản ứng phụ trong quá trình tẩy tạo các chất hữu cơ làm tăng lượng AOX trong nước thải. Để giảm lượng chất tẩy dạng chất clo mà vẫn đảm bảo độ trắng của vải và quần áo ( độ trắng lớn hơn 80 của berger), có thể kết hợp tẩy hai cấp.
Cấp I tẩy bằng NaOCl có bổ sung NaOH, sau 10-15 phút bổ sung H 2 O 2 và đun nóng để thực hiện tẩy cấp 2. Bằng cách này có thể giảm AOX. Trang 9 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẶT ŨI CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẶT ŨI I. CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẶT ŨI: Nước thải ngành giặt ũi là một trong những loại nước thải gây ô nhiễm và tác động mạnh đến môi trường.
Các chất thải ngành này chứa các chất hữu và độ màu. Do đó việc xử lý nhằm giảm thiểu các chất ô nhiểm có trong nước thải tùy thuộc vào mục đích và nguồn tiếp nhận sau cùng: 1) Phương pháp cơ học: Đặc trưng của phương pháp này là loại bỏ các tạp chất không hòa tan ra khỏi nước thải bằng cách gạn lọc, gắn và lọc. Phương pháp này thường ứng dụng với các công trình như: • Song chắn rác • Bể lắng cát • Bể điều hòa • Bể lắng • Bể lắng ngang : bể lắng đứng 2) Phương pháp hóa lý: Bản chất của quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp hóa lý là áp dụng các quá trình vật lý và hóa học để loại bỏ các chất ô nhiễm ra khỏi nước thải. Chủ yếu để xử lý nước thải công nghiệp.
Giai đoạn xử lý hóa lý là giai đoạn xử lý độc lập hoặc xử lý kết hợp cùng với các phương pháp cơ học, hóa học, sinh học trong công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh. Các phương pháp được áp dụng như sau: Phương pháp đông tụ: Là quá trình làm thô hóa các hạt phân tán và nhũ tương. Ph ương pháp này hiệu quả nhất khi sử dụng tách các hạt phân tán có kích thước 1 ÷ 1000Error! Bookmark not defined. Sự đông tụ diễn ra dưới ảnh hưởng của các chất đông tụ.
Chất đông tụ trong nước tạo thành các bông Hydroxit kim loại, các hạt lơ lửng và kết hợp lại với nhau tạo thành bông cặn lớn. Trang 10 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẶT ŨI Chất đông tụ thường là các muối sắt, nhôm, các hợp chất của chúng hoặc dung dịch hổn hợp keo tụ được sản xuất tù bùn đỏ. Việc chọn chất đông tụ phụ thuộc vào thành phần, tính chất hóa lý, giá thành, pH, nồng độ tạp chất trong nước thải. Phương pháp keo tụ tạo bông: Công nghệ xử lý nước thải giặt ũi sử dụng quá trình keo tụ tạo bông và lắng để xử lý các chất lơ lửng, độ đục, độ màu.
Độ đục, độ màu gây ra bởi các hạt keo có kích thước bé ( 10-2 ÷ 10-1 µ m). Các chất này không thể lắng hoặc xử lý bằng phương pháp lọc mà phải sử dụng các chất keo tụ và trợ keo tụ để liên kết các hạt keo lại thành các bông cặn có kích thước lớn để dễ dàng loại bỏ ở bể lắng. Các chất keo tụ thường sử dụng là phèn nhô m, phèn sắt, các polyme… trong đó, được dùng rộng rải nhất là phèn nhôm và phèn sắt vì nó hòa tan tốt trong nước, giá rẻ, hoạt động trong khoảng pH lớn. Để tăng cường quá trình keo tụ, tăng tốc độ lắng người ta thường cho thêm vào nước thải các hợp chất cao phân tử gọi là chất trợ keo tụ.
Thông thường liều lượng chất trợ keo tụ khoảng 1 - 5 mg/l. Để phản ứng diễn ra hoàn toàn và tiết kiệm năng lượng, phải khuấy trộn đều hóa chất với nước thải. Thời gian lưu lại trong bể trộn khoảng 5 phút. Tiếp đó thời gian cần thiết để nước thải tiếp xúc với hóa chất cho đến khi bắt đầu lắng dao động khoảng 30 – 60 phút.
Trong khoảng thời gian này các bông cặn được tạo thành và lắng xuống nhờ vào trọng lực. Mặt khác, để tăng cường quá trình khuấy trộn nước thải với hóa chất và tạo được bông cặn người ta dùng các thiết bị khuấy trộn khác nhau như: khuấy trộn thủy lực hay khuấy trộn cơ. - Khuấy trộn bằng thủy lực: trong bể trộn có thiết kế các vách ngăn để tăng chiều dài quãng đường mà nước thải phải đi nhằm tăng khả năng hòa trộn nước thải với các hóa chất. - Khuấy trộn bằng cơ khí: trong bể trộn lắp đặt các thiết bị có cánh khuấy có thể quay ở các góc độ khác nhau nhằm tăng khả năng tiếp xúc giữa nước thải và hóa chất.
Phương pháp tuyển nổi: Tuyển nổi để loại bỏ ra khỏi nước thải các tạp chất không tan và khó lắng. Người ta sử dụng phương pháp này để xử lý nước thải trong ngành sản xuất chế biến dầu, mỡ, da …. Trang 11 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẶT ŨI Có nhiều phương pháp tuyển nổi để xử lý nước thải: - Tuyển nổi với sự tách không khí từ dung dịch - Tuyển nổi với việc cho thông khí qua vật liệu xốp - Tuyển nổi hóa học - Tuyển nổi điện - Tuyển nổi với sự phân tách không khí bằng cơ khí Phương pháp hấp thụ: Phương pháp hấp phụ được dùng rộng rải để làm sạch triệt để nước thải khỏi các chất bẩn các chất hữu cơ hòa tan sau khi xử lý sinh học cũng như xử lý cục bộ. Hiện tượng tăng nồng độ chất tan trên bề mặt phân chia giữa hai pha gọi là hiện tượng hấp phụ.
Tốc độ quá trình phụ thuộc vào nồng độ, bản chất và cấu trúc của chất tan, nhiệt độ của nước, loại và tính chất của chất hấp phụ… Quá trình hấp thụ gồm 3 giai đoạn : - Di chuyển chất cần hấp phụ từ nước thải tới bề mặt hấp phụ (vùng khuyếch tán ngoài) - Thực hiện quá trình hấp phụ - Di chuyển chất cần hấp phụ vào bên trong hạt hấp phụ (vùng khuyếch tán trong ). Trong đó, tốc độ của ch ính quá trình hấp phụ là lớn và không hạn định tốc độ chung của quá trình. Do đó giai đoạn quyết định tốc độ của quá trình hấp phụ là giai đoạn khuếch tán ngoài hay giai đoạn khuyếch tán trong. Trong một số trường hợp tốc độ hấp phụ được hạn định bởi cả hai giai đoạn này.
Tái sinh chất hấp phụ là một giai đoạn quan trọng trong quá trình hấp phụ. Các chất bị hấp phụ có thể được tách ra khỏi than hoạt tính bằng quá trình nhả hấp nhờ hơi bảo hòa hay hơi hóa nhiệt hoặc bằng khí trơ nóng. Ngoài ra, còn có thể tái sinh chất hấp phụ bằng phương pháp trích ly. Phương pháp hóa học và hóa lý được ứng dụng chủ yếu để xử lý nước thải công nghiệp.
Phụ thuộc vào điều kiện địa phương và mức độ cần thiết xử lý mà phương pháp xử lý hóa lý hay hóa học là giai đoạn cuối cùng (nếu như mức độ xử lý đạt yêu cầu có Trang 12 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẶT ŨI thể xả ra nguồn) hoặc chỉ là giai đoạn sơ bộ (khử một vài liên kết độc hại ảnh hưởng đến chế độ làm việc bình thường của các công trình xử lý). 3) Phương pháp sinh học: Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học là dựa vào khả năng sống và hoạt động sống của vi sinh vật có tác dụng phân hóa chất hữu cơ. Do quá trình phân hóa phức tạp nhưng chất bẩn có được kháng hóa và trở thành nước, chất vô cơ và những chất khí như : H 2 S , Sunfit , Amoniac , Nitơ … Phương pháp này dựa tr ên cơ sở sử dụng hoạt động của các vi sinh vật để phân hủy chất hữu cơ có trong nước thải. Các vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và một số muối khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng.
Trong quá trình dinh dưỡng chúng nhận các chất dinh dưỡng để xây dựng tế bào, sinh trưởng và sinh sản nên sinh khối của chúng tăng lên. Quá trình phân hủy chất hữu cơ nhờ sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Như vậy nước thải có thể xử lý bằng phương pháp sinh học sẽ đặc trưng bằng các chỉ tiêu BOD, COD. Để xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hiệu quả thì tỷ số BOD/COD ≥ 0.5 Các phương pháp xử lý sinh học có thể phân loại trên cơ sở khác nhau, dựa vào quá trình hô hấp của sin h vật có thể chia ra làm 2 loại: quá trình hiếu khí và kỵ khí.
Các công trình áp dụng phương pháp này như : Bể Aerotank Bể lọc sinh học Mương oxy hóa Bể mêtan Bể UASB (Upflow Anaerobic Sludge Blanket) 4) Xử lý bùn cặn: Tách nước ra khỏi dung dịch bùn ta áp dụng các công trình sau: - Bể nén bùn bằng phương pháp trọng lực - Bể nén bùn bằng phương pháp tuyển nổi - Máy ly tâm bùn Trang 13 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI GIẶT ŨI Ổn định bùn: có nhiều phương pháp để ổn định bùn như phương pháp hóa học, sinh học, nhiệt … Phương pháp sinh học được áp dụng rộng rãi nhất các công trình điển hình như: - Bể mêtan - Bể lắng hai vỏ - Bể tự hoại … Sau quá trình xử lý có thể dùng bùn làm phân bón, chôn lấp ở nơi hợp lý.