CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vài nét về Công ty TNHH Một thành viên Dệt Kim Đông Phương Công ty Dệt Kim Đông Phương là doanh nghiệp nhà nước được thành lập năm 1977. Hiện nay Công ty là thành viên của Tập Đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex). Nhà xưởng được xây dựng tại KCN Xuyên Á, có tổng diện tích 70.
Tên viết tắt: DOPIMEX. Địa chỉ: Đường số 03, Khu công nghiệp Xuyên Á, Ấp Tràm Lạc, Xã Mỹ Hạnh Bắc, Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An.net Nhà máy se xợi với công suất 300 tấn/năm, 55 máy se xợi “Two – For – One” nhãn hiệu Murata của Nhật. Sản phẩm: các loại chỉ sợi cotton, TC, CVC, PE chi số 20/2, 30/2, 40/2, 45/2… Nhà máy sợi nhuộm với công suất 10.000 m/năm, với 156 máy Toyota 810 của Nhật. Sản xuất nhiều loại vải khác nhau như 100% cotton, CVC, KT và những loại vải chất lượng khác.
Nhà máy nhuộm hoàn thiện chuyên tẩy trắng, nhuộm các loai vải hoàn tất chất lượng cao như 100% cotton, CVC, T/C, T/R, Visco, Cotton spandex. Với công suất 4.500 tấn/năm, sử dụng thiết bị hiện đại của Ý, Nhật, Đài Loan, Hồng Kông. Nhà máy tẩy trắng liên tục hợp tác với Nhật Bản, sử dụng thiết bị và công nghệ đặc biệt của Nhật Bản. Với công suất 1500 tấn/năm.
Xưởng may có năng suất 5. Chuyên sản xuất, gia công các sản phẩm may mặc thời trang thun các loại như T-shirt, Poly Shirt, Kaki,… Công ty cung cấp nhiều loại sợi khác nhau theo yêu cầu của khách hàng như chỉ sợi cotton, TC, CVC, PE chỉ số 20/2, 30/2, 40/2, 45/2,… Cung cấp sản phẩm vải đa dạng với chất lượng cao, phong phú về màu sắc mang lại cho khách hàng nhiều sự lựa chọn. Với máy móc hiện đại cùng với đội ngũ nhân công thành thạo tay nghề, DOPIMEX chuyên gia công các sản phẩm may mặc với thiết kế mẫu mã đa dạng. Tổng quan về nước thải dệt nhuộm 1.
Tổng quan về ngành dệt nhuộm Nguyên liệu chủ yếu của công nghiệp dệt là xơ bông, xơ nhân tạo hoặc tổng hợp và 3 do an len. Ngoài ra còn dùng các xơ đay gai, tơ tằm. Các quá trình cơ bản trong công nghệ dệt nhuộm Thông thường công nghệ dệt - nhuộm gồm ba quá trình cơ bản: kéo sợi, dệt vải và xử lý (nấu tẩy), nhuộm và hoàn thiện vải. Trong đó được chia thành các công đoạn sau: Làm sạch nguyên liệu: nguyên liệu thường được đóng dưới các dạng kiện bông thô chứa các sợi bong có kích thước khác nhau cùng với các tạp chất tự nhiên như bụi, đất, hạt, cỏ rác… Nguyên liệu bông thô được đánh tung, làm sạch và trộn đều.
Sau quá trình làm sạch, bông được thu dưới dạng các tấm phẳng đều. Chải: các sợi bông được chải song song và tạo thành các sợi thô. Kéo sợi, đánh ống, mắc sợi: tiếp tục kéo thô tại các máy sợi con để giảm kích thước sợi, tăng độ bền và quấn sợi vào các ống sợi thích hợp cho việc dệt vải. Sợi con trong các ống nhỏ được đánh ống thành các quả to để chuẩn bị dệt vải.
Tiếp tục mắc sợi là dồn qua các quả ống để chuẩn bị cho công đoạn hồ sợi. Hồ sợi dọc: hồ sợi bằng hồ tinh bột và tinh bột biến tính để tạo màng hố bao quanh sợi, tăng độ bền, độ trơn và độ bóng của sợi để có thể tiến hành dệt vải. Ngoài ra còn dùng các loại hồ nhân tạo như polyvinylalcol PVA, polyacrylat,… Dệt vải: kết hợp sợi ngang với sợi dọc đã mắc thành hình tấm vải mộc. Giũ hồ: tách các thành phần của hồ bám trên vải mộc bằng phương pháp enzym (1% enzym, muối và các chất ngấm) hoặc axit (dung dịch axit sunfuric 0.
Vải sau khi giũ hồ được giặc bằng nước, xà phòng, xút, chất ngấm rồi đưa sang nấu tẩy. Nấu vải: Loại trừ phần hồ còn lại và các tạp chất thiên nhiên như mỡ, sáp… Sau khi nấu vải có độ mao dẫn và khả năng thấm nước cao, hấp thụ hóa chất, thuốc nhuộm cao hơn, vải mềm mại và đẹp hơn. Vải được nấu trong dung dịch kiềm và các chất tẩy giặt ở áp suất cao (2 – 3 atm) và ở nhiệt độ cao (120 – 130oC). Sau đó, vải được giặt nhiều lần.
Làm bóng vải: Mục đích làm cho sợi cotton trương nở, làm tăng kích thước các mao quản giữa các phần tử làm cho xơ sợi trở nên xốp hơn, dễ thấm nước hơn, bóng hơn, tăng khả năng bắt màu thuốc nhuộm. Làm bóng vải thông thường bằng dung dịch kiềm dung dịch NaOH có nồng độ từ 280 đến 300g/l, ở nhiệt độ thấp 10 – 20oC. Sau đó vải được giặt nhiều lần. Đối với vải nhân tạo không cần làm bóng.
Tẩy trắng: Mục đích tẩy màu tự nhiên của vải, làm sạch các vết bẩn, làm cho vải có độ trắng đúng yêu cầu chất lượng. Các chất tẩy thường dùng là natri clorit NaClO2, natri 4 do an hypoclorit NaOCl hoặc hyrdo peroxyte H2O2 cùng với các chất phụ trợ. Trong đó đối với vải bông có thể dùng các loại chất tẩy H2O2, NaOCl hay NaClO2. Nhuộm vải hoàn thiện: Mục đích tạo màu sắc khác nhau của vải.
Thường sử dụng các loại thuốc nhuộm tổng hợp cùng với các hợp chất trợ nhuộm để tạo sự gắn màu của vải. Phần thuốc nhuộm dư không gắn vào vải, đi vào nước thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công nghệ nhuộm, loại vải cần nhuộm, độ màu yêu cầu… Thuốc nhuộm trong dịch nhuộm có thể ở dạng tan hay dạng phân tán. Quá trình nhuộm xảy ra theo 4 bước: - Di chuyển các phân tử thuốc nhuộm đến bề mặt sợi. - Gắn màu vào bề mặt sợi.
- Khuyết tán màu vào trong sợi, quá trình xảy ra chậm hơn quá trình trên. - Cố định màu và sợi. In hoa là tạo ra các vân hoa có một hoặc nhiều màu trên nền vải trắng hoặc vải màu, hồ in là một hỗn hợp gồm các loại thuốc nhuộm ở dạng hòa tan hay pigment dung môi. Các lớp thuốc nhuộm cùng cho in như pigment, hoạt tính, hoàn nguyên, azo không tan và indigozol.
Hồ in có nhiều loại như hồ tinh bột, dextrin, hồ alginat natri, hồ nhũ tương hay hồ nhũ hóa tổng hợp. Sau nhuộm và in, vải được giặt lạnh nhiều lần. Phần thuốc nhuộm không gắn vào vải và các hóa chất sẽ đi vào nước thải. Văng khổ, hoàn tất vải với mục đích ổn định kích thước vải, chống nhàu và ổn định nhiệt, trong đó sử dụng một số hóa chất chống màu, chất làm mềm và hóa chất như metylic, axit axetic, formaldehit.
(Nguồn: http://xulymoitruong.com/cong-nghe-xu-ly-nuoc-thai-det-nhuom-3680/) 5 do an Sơ đồ nguyên lý công nghệ dệt nhuộm hàng sợi bông & các nguồn nước thải: Nguyên liệu đầu Kéo sợi, chải, ghép, đánh ống Nước, tinh bột, Hồ sợi Nước thải chứa hồ phụ gia tinh bột, hóa chất. Hơi nước Dệt vải Nước thải chứa hồ Giũ hồ Enzym. NaOH tinh bột bị thủy phân, NaOH NaOH, hóa chất. Nấu Nước thải Hơi nước H2O2, NaOCl, chất tẩy giặc Xử lý axit, giặt Nước thải H2SO4, H2O2, hóa chất Tẩy trắng Nước thải H2SO4, H2O2, Giặt Nước thải Chất tẩy giặt NaOH, hóa chất.
Làm bóng Nước thải Dung dịch nhuộm Nhuộm, in hoa Dịch nhuôm vải H2SO4, H2O2, Giặt Nước thải Chất tẩy giặt Hơi nước, hồ, Nước thải Hoàn tất, văng khổ hóa chất Sản phẩm Hình 1.1: Sơ đồ nguyên lý công nghệ dệt nhuộm. (Nguồn: https://bunvisinh.com/cong-ty-tu-van-thiet-ke-cai-tao-he-thong-xu-ly-nuoc- thai-det-nhuom.html) 6 do an 1. Các loại thuốc nhuộm thường dùng trong ngành dệt nhuộm Thuốc nhuộm hoạt tính Các loại thuốc nhuộm thuộc nhóm này có công thức cấu tạo tổng quát là S-F-T- X trong đó: S là nhóm làm cho thuốc nhuộm có tính tan; F là phần mang màu, thường là các hợp chất Azo (-N=N-), antraquinon, axit chứa kim loại hoặc ftaloxiamin; T là gốc mang nhóm phản ứng; X là nhóm phản ứng. Loại thuốc nhuộm này khi thải vào môi trường có khả năng tạo thành các amin thơm được xem là tác nhân gây ung thư.
Thuốc nhuộm trực tiếp Đây là thuốc nhuộm bắt màu trực tiếp với xơ sợi không qua giai đoạn xử lý trung gian, thường sử dụng để nhuộm sợi 100% cotton, sợi protein (tơ tằm) và sợi poliamid, phần lớn thuốc nhuộm trực tiếp có chứa azo (môn, di and poliazo) và một số là dẫn xuất của dioxazin. Ngoài ra, trong thuốc nhuộm còn có chứa các nhóm làm tăng độ bắt màu như triazin và salicylic axit có thể tạo phức với các kim loại để tăng độ bền màu. Thuốc nhuộm hoàn nguyên Thuốc nhuộm hoàn nguyên gồm 2 nhóm chính: nhóm đa vòng có chứa nhân antraquinon và nhóm indigoit có chứa nhân indigo. Công thức tổng quát là R=C-O; trong đó R là hợp chất hữu cơ nhân thơm, đa vòng.
Các nhân thơm đa vòng trong loại thuốc nhuộm này cũng là tác nhân gây ung thư, vì vậy khi không được xử lý, thải ra môi trường, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thuốc nhuộm phân tán Nhóm thuốc nhuộm này có cấu tạo phân tử tư gốc azo và antraquinon và nhóm amin (NH2, NHR, NR2, NR-OH), dùng chủ yếu để nhuộm các loại sợi tổng hợp (sợi axetat, sợi polieste…) không ưa nước. Thuốc nhuộm lưu huỳnh Là nhóm thuốc nhuộm chứa mạch dị hình như tiazol, tiazin, zin… trong đó có cầu nối –S-S- dùng để nhuộm các loại sợi cotton và viscose. Thuốc nhuộm axit Là các muối sunfonat của các hợp chất hữu cơ khác nhau có công thức là R- SO3Na khi tan trong nước phân ly thành nhóm R-SO3 mang màu.
Các thuốc nhuộm này thuộc nhóm mono, diazo và các dẫn xuất của antraquinon, triaryl metan… Thuốc in, nhuộm pigmen Có chứa nhóm azo, hoàn nguyên đa vòng, ftaoxianin, dẫn suất của antraquinon… 7 do an (Nguồn: http://vietnam12h.com/ky-thuat/chi-tiet-ky-thuat.aspx?baivieturl=27-5- 2017-Thuoc-nhuom-chat-tao-mau) 1. Nhu cầu về nước và nước thải trong xí nghiệp dệt nhuộm Công nghệ dệt nhuộm sử dụng nước khá lớn: từ 12 đến 65 lít nước cho 1 mét vải và thải ra từ 10 đến 40 lít nước.1: Nước dùng trong nhà máy dệt phân bố như sau Sản xuất hơi nước 5.3% Làm mát thiết bị 6.4% Phun mù và khử bụi trong các phân xưởng 7.8% Nước dùng trong các công đoạn công nghệ 72.3% Nước vệ sinh và sinh hoạt 7.6% Phòng hỏa và cho các việc khác 0.6% (Nguồn: http://xulymoitruong.com/cong-nghe-xu-ly-nuoc-thai-det-nhuom-3680/) Nước thải từ công nghiệp dệt cũng rất đa dạng và phức tạp, nhu cầu nước cho công nghiệp dệt cũng rất lớn. Từ đó lượng nước thải từ những công nghệ này cũng rất nhiều. Hàng len nhuộm, dệt thoi là: 100 - 240 m3/tấn.
Hàng vải bông, nhuộm, dệt thoi: 50 - 240 m3/tấn, bao gồm: - Hồ sợi: 0. - Nấu, giũ hồ tẩy: 30 - 120 m3. Hàng vải bông in hoa, dệt thoi là 65 - 280 m3/tấn, bao gồm: - Hồ sợi: 0. - Giũ hồ, nấu tẩy: 30-120 m3.
Khăn len màu từ sợi polycrylonitrit là 40-140 m3/tấn, bao gồm: 8 do an - Nhuộm sợi: 30-80 m3. - Giặt sau dệt: 10-70 m3.