MỞ ĐẦU Khi công nghiệp hóa chăn nuôi cộng với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng đàn gia súc thì chất thải từ hoạt động chăn nuôi của các trang trại, gia trại đã làm cho môi trường chăn nuôi đặc biệt là môi trường xung quanh bị ô nhiễm trầm trọng, nó đã gây nên một làn sóng mới phản đối các trang trại chăn nuôi từ phía người dân ở gần các trang trại. Theo báo cáo tổng kết của Viện chăn nuôi, hầu hết các hộ chăn nuôi đều để nước thải chảy tự do ra môi trường xung quanh gây mùi hôi thối nồng nặc, đặc biệt là vào những ngày oi bức. Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần.Tổng số VSV và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần. Ngoài ra nước thải chăn nuôi còn có chứa coliform, e., và trứng giun sán cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.
Hiện nay với sự hội nhập quốc tế kèm với nó là sự gia tăng những quy định về bảo vệ môi trường, ý thức ngày càng được nâng cao của cộng đồng về các vấn đề môi trường thì vấn đề môi trường nói chung và môi trường chăn nuôi nói riêng đã nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng. Trên thế giới môi trường chăn nuôi đã được đánh giá một cách khá toàn diện, một trong số đó là các nghiên cứu về xử lý chất thải chăn nuôi. 1 Sinh viên: Nguyễn Văn Phong - MT1701 Khoá luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.Phát triển chăn nuôi ảnh hƣởng đến môi trƣờng Trong những năm gần đây, nghành chăn nuôi nước ta phát triển nhanh chóng cả về số lượng vật nuôi cũng như quy mô trang trại. Trong khi đó cơ sở vật chất và kỹ thuật chuồng trại chưa đảm bảo nên năng suất chăn nuôi thấp và gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường và tác động đến sức khỏe con người trên nhiều khía cạnh: ô nhiễm môi trường đất, nước mặt, nước ngầm, không khí. Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa do trong chất thải chăn nuôi có chứa nhiều VSV gây bệnh, trứng giun , sán. Tổ chức y tế thế giới(WHO) khuyến cáo: nếu chất thải chăn nuôi không được thu gom và xử lý hiệu quả sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đặc biệt là các loại virus biến thể từ các dịch bệnh long móng lở mồm, bệnh heo tai xanh… lây lan trong môi trường gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người và vật nuôi.
Theo Tổ chức nông lương thế giới(FAO), chất thải chăn nuôi toàn cầu tạo ra 65% lượng Nito oxit(N2O) trong khí quyển. Khí này hấp thu năng lượng ặt trời gấp 296 lần CO2. Động vật nuôi còn thải ra 9% lượng khí CO2 toàn cầu, 73% lượng khí Methane CH4 … Khí này có khả năng giữ nhiệt cao gấp 23 lần CO2. Ngoài các khí gây hiệu ứng nhà kính như trên, thì còn có tới hơn 40 loại khí gây mùi khác, mà chủ yếu là NH3 và H2S.
Theo số liệu thống kê của Cục chăn nuôi, hằng năm đàn gia súc, gia cầm của Việt Nam thải ra từ 73 đến 76 triệu tấn chất thải. Số lượng chất thải này chủ yếu được sử dụng làm phân bón. Tuy nhiên, trước khi đưa vào sử dụng chúng được xử lý trước, tùy vào quy mô của các trang trại chăn nuôi mà có các hình thức xử lý khác nhau. Hiện nay, vẫn còn nhiều trang trại chăn nuôi heo, bò… vẫn thải một lượng lớn chất thải trực tiếp ra cống toát nước, kênh mương… gây ra sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Đặc biêt là các trang trại quy mô nhỏ ở các vùng nông thôn. Gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người dân sống xung quanh. Chăn nuôi được xác định là một trong những nghành tạo ra lượng chất thải lớn nhất. Chất thải chăn nuôi bao 2 Sinh viên: Nguyễn Văn Phong - MT1701 Khoá luận tốt nghiệp gồm các chất ở dạng rắn, lỏng hay khí phát sinh ra trong qua trình sản xuất chăn nuôi.
Như: - Chất thải của bản thân gia súc, gia cầm như phân, nước tiểu, lông, vảy da và các phủ tạng loại thải của gia súc, gia cầm. - Nước thải từ quá trình tắm gia súc, rửa chuồng hay rửa dụng cụ và thiết bị chăn nuôi, nước làm mát hay từ các hệ thống dịch vụ chăn nuôi… - Thức ăn thừa, các vật dụng chăn nuôi, thú y bị loại ra trong quá trình chăn nuôi. - Bệnh phẩm thú y, xác gia súc, gia cầm chết. - Bùn lắng từ các mương dẫn, hố chứa hay lưu trữ và chế biến hay xử lý chất thải Hằng ngày, gia súc và gia cầm thải ra một lượng chất thải rất lớn.
Khối lượng phân và nước tiểu chiếm từ 1,5 – 6% khối lượng cơ thể và tang nhanh theo quá trình tăng thể trọng Bảng 1.1: Lƣợng phân gia súc, gia cầm thải ra hằng ngày tính theo tỷ lệ % khối lƣợng cơ thể Loại gia súc Tỷ lệ % phân so với khối lượng cơ thể Lợn 6-8 Bò sữa 7–8 Bò thịt 5-8 Gà, vịt 5 Bảng 1.2: Lƣợng chất thải chăn nuôi 1000 kg lợn trong 1 ngày Chỉ tiêu Khối lượng (kg) Tổng lượng phân 84 Tổng lượng nước tiểu 39 TS 11 BOD5 3.027 Nguồn: ASEA standards 3 Sinh viên: Nguyễn Văn Phong - MT1701 Khoá luận tốt nghiệp 1. Tổng quan về chất thải chăn nuôi a. Phân Phân là sản phẩm loại thải của quá trình tiêu hoá của gia súc, gia cầm bị bài tiết ra ngoài qua đường tiêu hóa. Trong phân chứa nhiều chất hữu cơ nên là nguồn dinh dưỡng tốt cho cây trồng và các loài động vật khác như cá, giun.
Thành phần hóa học của phân: - Các chất hữu cơ gồm các chất protein, carbonhydrate, chất béo và các sản phẩm trao đổi của chúng - Các chất vô cơ bao gồm các hợp chất khoáng đa lượng, vi lượng). Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi heo 4 GVHD: Ths. Lê Tấn Thanh Lâm - Nước: là thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 65 – 80% khối lượng của phân. - Dư lượng của thức ăn bổ sung cho gia súc, gồm các thuốc kích thích tăng trưởng, các hormone hay dư lượng kháng sinh… - Các men tiêu hóa của bản thân gia súc, chủ yếu là các men tiêu hóa sau khi sử dụng bị mất hoạt tính và được thải ra ngoài… - Các mô và chất nhờn tróc ra từ niêm mạc đường tiêu hoá.
- Các thành phần tạp từ môi trường thâm nhập vào thức ăn trong quá trình chế biến thức ăn hay quá trình nuôi dưỡng gia súc (cát, bụi,…. - Các yếu tố gây bệnh như các vi khuẩn hay ký sinh trùng bị nhiễm trong đường tiêu hoá gia súc hay trong thức ăn b. Nƣớc tiểu: Nước tiểu gia súc là sản phẩm bài tiết của con vật, chứa đựng nhiều độc tố, là sản phẩm cặn bã từ quá trình sống của gia sú, khi phát tán vào môi trường có thể chuyển hóa thành các chất ô nhiễm gây tác hại cho con người và môi trường. Nƣớc thải: Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, rửa chuồng.
Nước thải chăn nuôi còn có thể chứa một phần hay toàn bộ lượng phân được gia súc, gia cầm thải ra. Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi. Theo khảo sát của Trương Thanh Cảnh và các ctv 4 Sinh viên: Nguyễn Văn Phong - MT1701 Khoá luận tốt nghiệp (2006) trên gần 1.000 trại chăn nuôi heo quy mô vừa và nhỏ ở một số tỉnh phía Nam cho thấy hầu hết các cơ sở chăn nuôi đều sử dụng một khối lượng lớn nước cho gia súc. Cứ 1 kg chất thải chăn nuôi do lợn thải ra được pha thêm với từ 20 đến 49 kg nước.
Lượng nước lớn này có nguồn gốc từ các hoạt động tắm cho gia súc hay d ng để rửa chuồng nuôi hành ngày… Việc xử dụng nước tắm cho gia súc hay rửa chuồng làm tăng lượng nước thải đáng kể, gây khó khăn cho việc thu gom và xử lý nước thải sau này. Thành phần của nước thải rất phong phú, chúng bao gồm các chất rắn ở dạng lơ lửng, các chất hòa tan hữu cơ hay vô cơ, trong đó nhiều nhất là các hợp chất chứa nitơ và photpho. Nước thải chăn nuôi còn chứa rất nhiều vi sinh vật, ký sinh trùng, nấm, nấm men và các yếu tố gây bệnh sinh học khác. Do ở dạng lỏng và giàu chất hữu cơ nên khả năng bị phân hủy vi sinh vật rất cao.
Chúng có thể tạo ra các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm cho cả môi trường đất, nước và không khí. Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải phụ thuộc vào thành phần của phân, nước tiểu gia súc, lượng thức ăn rơi vãi, mức độ và phương thức thu gom (số lần thu gom, vệ sinh chuồng trại và có hốt phân hay không hốt phân trước khi rửa chuồng , lượng nước dùng tắm gia súc và vệ sinh chuồng trại 1. Các phƣơng pháp xử lý nƣớc thải chăn nuôi heo Việc xử lý nước thải chăn nuôi heo nhằm giảm nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải đến một nồng độ cho ph p có thể xả vào nguồn tiếp nhận. Việc lựa chọn phương pháp làm sạch và lựa chọn quy trình xử lý nước phụ thuộc vào các yếu tố như : Các yêu cầu về công nghệ và vệ sinh nước.
Lưu lượng nước thải. Các điều kiện của trại chăn nuôi. Hiệu quả xử lý. Đối với nước thải chăn nuôi, có thể áp dụng các phương pháp sau : Phương pháp cơ học Phương pháp hóa lý Phương pháp sinh học 5 Sinh viên: Nguyễn Văn Phong - MT1701 Khoá luận tốt nghiệp Trong các phương pháp trên ta chọn xử lý sinh học là phương pháp chính.
Công trình xử lý sinh học thường được đặt sau các công trình xử lý cơ học, hóa lý. Phƣơng pháp xử lý cơ học Mục đích là tách chất rắn, cặn, phân ra khỏi hỗn hợp nước thải bằng cách thu gom, phân riêng. Có thể d ng song chắn rác, bể lắng sơ bộ để loại bỏ cặn thô, dễ lắng tạo điều kiện thuận lợi và giảm khối tích của các công trình xử lý tiếp theo. Ngoài ra có thể d ng phương pháp li tâm hoặc lọc.
Hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải chăn nuôi khá lớn khoảng vài ngàn mg/l và dễ dàng có thể lắng sơ bộ trước rồi đưa sang các công trình sử lý tiếp theo.