ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE), nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là một nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng càng ngày càng xấu đi. Ước tính, hiện chỉ có khoảng 6% lượng nước thải đô thị được xử lý. Do đặc điểm điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi, tổng số dân khu vực miền Bắc lên đến 31,3 triệu người (chiếm 35,6% dân số cả nước), trong đó dân số thành thị chiếm gần 8,1 triệu người (TCTK, 2012). Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm vào khoảng 1%, dân số thành thị tăng nhanh gấp 3 lần mức tăng dân số cả nước.
Bên cạnh đó, không chỉ ở thành thị, mà ngay cả khu vực nông thôn, lượng nước thải sinh hoạt cũng chiếm tỷ lệ rất lớn và tăng nhanh qua các năm. Hiện tại, thị trấn Vân Đình đang phát triển rất nhanh chóng về nhiều mặt kéo theo các vấn đề môi trường cần giải quyết. Theo quy hoạch chung, thị trấn Vân Đình sẽ là đô thị loại V, trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa - xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật, kinh tế, thương mại, dịch vụ của huyện Ứng Hòa, đồng thời là một trong chuỗi đô thị thị trấn của thành phố Hà Nội. Vì vậy, đề tài “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho thị trấn Vân Đình - Ứng Hòa – Hà Nội” được đặt ra với mục tiêu xử lý các chất ô nhiễm trong nước thải, nâng cao chất lượng nước, đạt tiêu chuẩn xả thải, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nước thải sinh hoạt 1. Khái niệm nước thải sinh hoạt Theo QCVN 14:2008/BTNMT, “Nước thải sinh hoạt là nước được thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người như: ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân. Nguồn nước tiếp nhận nước thải là nguồn nước mặt hoặc vùng nước biển ven bờ, có mục đích sử dụng xác định, nơi mà nước thải sinh hoạt thải vào.
Đặc tính chung của nước thải sinh hoạt thường bị ô nhiễm bởi các chất cặn bã hữu cơ, các chất hữu cơ hòa tan (thông qua các chỉ tiêu BOD5, COD), các chất dinh dưỡng (Nitơ, Phospho), các vi trùng gây bệnh (E.Coli, coliform…); Mức độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào: lưu lượng nước thải, tải trọng chất bẩn tính theo đầu người; Tải trọng chất bẩn tính theo đầu người phụ thuộc vào: mức sống, điều kiện sống, tập quán sống và điều kiện khí hậu. Phân loại và thành phần nước thải sinh hoạt 1. Phân loại Nước thải sinh hoạt được chia làm 2 loại: Nước đen là nước thải từ nhà vệ sinh, chứa phần lớn các chất ô nhiễm, chủ yếu là các chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh và cặn lơ lửng. Nước xám là nước phát sinh từ các quá trình : rửa, tắm, giặt, với thành phần các chất ô nhiễm không đáng kể.
Thành phần Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài ra còn có các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Ở những khu dân cư đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém, nước thải sinh họat không được xử lý thích đáng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Mức độ tác hại phụ thuộc vào loại chất ô nhiễm, nồng độ của chúng và hiệu quả xử lý các chất đặc biệt này. Đặc điểm quan trọng của nước thải sinh hoạt là thành phần của chúng tương đối ổn định.
Các thành phần này bao gồm: 52% chất 2 hữu cơ, 48% các chất vô cơ. Ngoài ra nước thải sinh hoạt còn chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh và các độc tố của chúng, phần lớn vi sinh vật trong nước thải là vi- rút, vi khuẩn gây bệnh tả, kiết lỵ và thương hàn. Thành phần các chất trong nước thải sinh hoạt được trình bày trong hình 1.1 [10] Nước thải sinh hoạt 99,9% nước 0,1% các chất rắn 50 – 70% chất hữu cơ Cát Muối Kim loại 25% 65% 10% cacbonhydrat Protein chất béo Hình 1.1: Thành phần các chất trong nước thải sinh hoạt Bảng 1.1: Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt Mức độ ô nhiễm Thông số Đơn vị Nặng Trung bình Nhẹ Chất rắn lơ lửng (TSS) mg/l 350 220 100 Chất rắn hòa tan (TDS) mg/l 850 500 250 BOD5 mg/l 400 220 110 Amoniac mg/l 50 30 10 Nitrit mg/l 0,4 0,2 0 Tổng N mg/l 85 40 20 Tổng P mg/l 15 8 4 Dầu mỡ mg/l 150 100 50 Sunfat mg/l 50 30 20 Coliform MPN/100ml 107 – 109 107 – 108 106 – 107 (Nguồn: Lâm Minh Triết, 2010) 3 Nước thải sinh hoạt ở các vùng khác nhau sẽ có đặc tính khác nhau phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng.2: Tỷ lệ giữa các vùng về tổng lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt (Nguồn: Tổng cục môi trường, 2012) Tác hại đến môi trường của nước thải do các thành phần ô nhiễm tồn tại trong nước thải gây ra. COD, BOD: sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường nước.
Nếu ô nhiễm quá mức điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá trình phân hủy yếm khí sinh ra các sản phẩm như H2S, NH3,CH4… làm cho nước có mùi hôi thối và làm giảm pH của môi trường. SS: lắng động ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí. Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh vật nước.
N, P: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng. Nếu nồng độ trong nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa (sự phát triển bùng phát của các loại tảo, làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp vào ban đêm gây ngạt thở và 4 diệt vong các sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ oxy rất cao do quá trình hô hấp của tảo thải ra) Màu: mất mỹ quan. Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy trên bề mặt. Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu chảy, ngộ độc thức ăn… Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng.
Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh tình nghi là do dùng nước bẩn trong mọi sinh hoạt. Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng thủy sản. Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thể mắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư da. Ngoài ra, asen còn gây nhiễm độc hệ thống tuần hoàn khi uống phải nguồn nước có hàm lượng asen 0,1mg/l.
Vì vậy, cần phải xử lý nước nhiễm asen trước khi dùng cho sinh hoạt và ăn uống. Người nhiễm chì lâu ngày có thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư. Metyl tert- butyl ete (MTBE) là chất phụ gia phổ biến trong khai thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao. Nhiễm Natri (Na) gây bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, lưu huỳnh gây bệnh về đường tiêu hoá, Kali, Cadimi gây bệnh thoái hoá cột sống, đau lưng.
Hợp chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản thực phẩm, phốt pho. gây ngộ độc, viêm gan, nôn mửa. Tiếp xúc lâu dài sẽ gây ung thư nghiêm trọng các cơ quan nội tạng. Chất tẩy trắng Xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp, oxalate kết hợp với calcium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật.
Vi khuẩn, ký 5 sinh trùng các loại là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm giun, sán. Kim loại nặng các loại: Titan, Sắt, chì, cadimi, asen, thuỷ ngân, kẽm gây đau thần kinh, thận, hệ bài tiết, viêm xương, thiếu máu. Tổng quan các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt 1. Phương pháp cơ học 1.
Song chắn rác, lưới lọc rác Song chắn rác: Để chắn giữ rác bẩn, thô (giấy, rác thải.) dùng song chắn rác. Song chắn rác là công trình xử lý sơ bộ để chuẩn bị điều kiện cho việc xử lý nước thải sau đó. Trường hợp ở trạm bơm chính đã đặt song chắn rác với kích thước 16 mm thì không nhất thiết phải đặt nó ở trên trạm xử lý nữa ( đối với trạm có công suất nhỏ). Song chắn rác gồm các thanh đan sắp xếp cạnh nhau ở trên mương dẫn nước.
Khoảng cách giữa cách đan gọi là khe hở (mắt lưới). Lưới lọc rác: Khử các chất rắn lơ lửng có kích thước nhỏ hoặc các sản phẩm có giá trị [7]. Bể lắng cát Trong thành phần cặn lắng nước thải thường có cát với độ lớn thủy lực = 18 mm/s. Đây là các phần tử vô cơ có kích thước và tỷ trọng lớn.
Mặc dù không độc hại nhưng chúng cản trở hoạt động của các công trình xử lý nước thải như tích tụ trong bể lắng, bể mêtan,… làm giảm dung tích và công tác công trình, gây khó khăn cho việc xả bùn cặn, phá hủy quá trình công nghệ của trạm xử lý nước thải. Để đảm bảo cho các công trình xử lý sinh học nước thải sinh học, nước thải ổn định họat động cần phải có các công trình và thiết bị phía trước. Nhiệm vụ: Loại bỏ các cặn vô cơ lớn như cát, sỏi…có kích thước hạt nhỏ hơn 0,2 mm; Bảo vệ các trang thiết bị động (bơm) tránh mài mòn; Giảm cặn lắng trong ống, mương dẫn và bể phân hủy. 6 Có thể chia làm 3 loại: bể lắng cát ngang, bể lắng cát thổi cơ khí và bể lắng cát tiếp tuyến.
Các loại bể lắng cát chuyển động quay có hiệu quả lắng cát cao và hàm lượng chất hữu cơ có trong cát thấp. Do cấu tạo đơn giản, bể lắng cát ngang được sử dụng rộng rãi hơn cả. Tuy nhiên trong điều kiện cần thiết phải kết hợp các công trình xử lý nước thải, người ta có thể dùng bể lắng cát đứng, bể lắng cát tiếp tuyến hoặc thiết bị xyclon hở một tầng hoặc xyclon thủy lực. Cát lưu giữ trong bể từ 2 đến 5 ngày.