Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển kinh tế - xã hội và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đang làm gia tăng áp lực chất thải rắn lên môi trường sống. Trong các thành phần chất thải sinh hoạt, chất thải nhựa (RTN) và túi nilon là nhóm vật liệu có thời gian phân hủy tự nhiên kéo dài từ 450 đến 1.000 năm. Sự tồn lưu kéo dài của rác thải nhựa gây biến đổi tính chất vật lý của đất, cản trở thoát nước, ô nhiễm nguồn nước ngầm, đe dọa sinh vật biển và phát sinh các chất độc hại khi bị đốt thủ công.

Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm phát sinh khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó có từ 0,28 đến 0,73 triệu tấn thải ra biển (chiếm khoảng 6% lượng rác thải nhựa xả ra biển của toàn cầu, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có lượng xả thải nhựa ra biển lớn). Bình quân mỗi hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ khoảng 1 kg túi nilon/tháng (tương đương 223 túi nilon/tháng). Mức tiêu thụ nhựa bình quân đầu người đã tăng mạnh từ 3,8 kg/người/năm (năm 1990) lên 41,3 kg/người/năm (năm 2018). Tuy nhiên, công tác thu gom, phân loại và xử lý rác thải nhựa tại nguồn vẫn còn nhiều hạn chế: khoảng 90% chất thải nhựa được xử lý theo hình thức chôn lấp hoặc đốt thủ công, chỉ khoảng 10% được đưa vào chu trình tái chế.

Thành phố Hòa Bình là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Hòa Bình – một tỉnh miền núi phía Tây Bắc. Cùng với sự phát triển thương mại, dịch vụ và gia tăng dân số, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt nói chung và chất thải nhựa nói riêng tại thành phố tăng lên liên tục. Mặc dù địa phương đã có đơn vị dịch vụ môi trường thực hiện thu gom, nhưng việc thu gom chất thải nhựa chưa được thực hiện triệt để; rác thải chưa được phân loại tại nguồn, thói quen xả rác bừa bãi còn tồn tại và các bãi chôn lấp tập trung đang trong tình trạng quá tải nghiêm trọng.

Xuất phát từ thực tế trên, khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu hiện trạng rác thải nhựa trong sinh hoạt và đề xuất biện pháp giảm thiểu tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình" do sinh viên Lê Thanh Tùng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Dương Thị Bích Ngọc (Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng & Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp) nhằm đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp cho địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng từ đó đề xuất giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa trong sinh hoạt, góp phần bảo vệ môi trường tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá được thực trạng chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
    2. Đề xuất được giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu hiện trạng sử dụng các loại chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình.
  2. Nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  3. Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất thải nhựa phát sinh từ hoạt động sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
  • Phạm vi không gian: Tập trung tại khu vực dân cư thuộc 6 phường trung tâm của thành phố Hòa Bình, bao gồm: phường Phương Lâm, phường Đồng Tiến, phường Chăm Mát, phường Tân Thịnh, phường Hữu Nghị và phường Thịnh Lang.
  • Phạm vi nội dung: Các hoạt động phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nhựa sinh hoạt và nhận thức của cộng đồng, cán bộ quản lý trên địa bàn 6 phường nghiên cứu.
  • Thời gian thực hiện: Năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống khái niệm về vật liệu polyme tổng hợp nhân tạo (polyethylene - PE, polystyrene - PS, polypropylene - PP, polyethylene terephthalate - PET), chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), rác thải nhựa (RTN) và hiện tượng "ô nhiễm trắng". Tác giả tổng hợp các bằng chứng khoa học về tác động của vi nhựa (microplastic kích thước dưới 5 mm), sự phơi nhiễm các chất phụ gia độc hại như bisphenol-A (BPA), phthalates, chất làm chậm cháy brôm, cũng như nguy cơ phát sinh khí độc dioxin và furan khi đốt chất thải nhựa ngoài môi trường hở.

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sau:

  1. Phương pháp kế thừa số liệu:

    • Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân số từ các cơ quan hành chính của UBND thành phố Hòa Bình.
    • Kế thừa các báo cáo, tài liệu quản lý chất thải rắn của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Công ty Cổ phần Môi trường đô thị Hòa Bình, các công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cục Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA).
  2. Phương pháp khảo sát thực địa:

    • Tiến hành quan sát trực tiếp tại 6 phường nghiên cứu để ghi nhận: số lượng và không gian điểm tập kết rác; khoảng cách giữa các điểm tập kết; kiểm kê số lượng, chủng loại thùng rác công cộng; loại xe thu gom và vận chuyển rác (xe đẩy tay, xe cải tiến, xe ép chuyên dụng); tần suất thu gom và công tác bảo hộ lao động; khảo sát tình trạng hoạt động tại điểm tập kết rác phường Thịnh Lang và bãi rác Lương Sơn.
  3. Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi:

    • Tổng dung lượng mẫu: 330 phiếu điều tra, phân bổ đều cho 6 phường (mỗi phường 55 phiếu).
    • Cơ cấu đối tượng điều tra trên mỗi phường:
      • 41 hộ gia đình (tổng cộng 246 hộ trên 6 phường). Phương pháp chọn mẫu: chọn ngẫu nhiên theo số nhà bằng hàm ngẫu nhiên trong phần mềm Excel.
      • 10 hộ kinh doanh (tổng cộng 60 hộ trên 6 phường), ưu tiên chọn các cơ sở kinh doanh sử dụng nhiều sản phẩm nhựa dùng một lần như quán chè, cháo dinh dưỡng, trà chanh, quán nước, quán xôi, cửa hàng ăn nhanh, tạp hóa (chọn mẫu thuận tiện).
      • 02 người thu mua phế liệu (tổng cộng 12 người trên 6 phường, chọn mẫu thuận tiện).
      • 02 cán bộ quản lý môi trường (tổng cộng 12 cán bộ trên 6 phường, chọn mẫu thuận tiện).
    • Nội dung phiếu hỏi: Khối lượng và loại sản phẩm nhựa sử dụng/thải bỏ hàng ngày; hành vi xả rác và mức độ phân loại tại nguồn; nhận thức về tác hại của chất thải nhựa; đánh giá chất lượng dịch vụ thu gom; các yếu tố thúc đẩy chuyển đổi sang sản phẩm thay thế thân thiện môi trường.
  4. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu:

    • Số liệu điều tra được tổng hợp, xử lý bằng bảng tính để tính toán tỷ lệ phần trăm (%), khối lượng phát sinh trung bình và mức phát sinh rác thải nhựa bình quân đầu người (g/người/ngày).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất thải nhựa, phân loại nguồn gốc phát sinh và phân tích các tác động tiêu cực của rác thải nhựa đối với môi trường đất (làm mất kết cấu đất, xói mòn, cản trở oxy và sinh trưởng cây trồng), môi trường nước (gây tắc nghẽn dòng chảy, úng ngập, phát sinh dịch bệnh), môi trường không khí (phát sinh khí nhà kính, dioxin, furan) và sức khỏe con người (vi nhựa xâm nhập hàng rào nhau thai/máu não, thôi nhiễm BPA và hóa dẻo gây ung thư, vô sinh, rối loạn nội tiết).

Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm quản lý chất thải nhựa trên thế giới:

  • Nhật Bản: Phân loại rác nghiêm ngặt theo luật định, đạt tỷ lệ tái chế chất thải 20,8% (đặc biệt tái chế chai nhựa PET thành sợi may mặc).
  • Singapore: Triển khai chương trình biến rác thải thành năng lượng từ năm 2001, thu hút 56% hộ gia đình tham gia.
  • Indonesia: Áp dụng mô hình đổi chai/cốc nhựa lấy vé xe buýt tại thành phố Surabaya (thu gom 250 kg chai nhựa/xe/ngày).
  • Trung Quốc: Thu phí túi nilon tại siêu thị và lắp máy đổi chai nhựa lấy vé tàu điện ngầm tại Bắc Kinh.
  • Na Uy: Hệ thống máy tự động thu hồi chai nhựa đạt tỷ lệ tái chế 97%.

Về hiện trạng tại Việt Nam, chương 1 phản ánh tỷ lệ tái chế thấp (10.000 tấn rác tại TP.HCM chỉ thu được 50 - 60 tấn nhựa tái sinh chất lượng thấp). Đối với địa bàn tỉnh Hòa Bình (dân số hơn 939.000 người), lượng CTRSH phát sinh tại đô thị khoảng 127,043 tấn/ngày (thu gom được 109,257 tấn/ngày); tại khu vực nông thôn phát sinh 379,571 tấn/ngày nhưng lượng thu gom chỉ đạt 117,667 tấn/ngày (chỉ phục vụ được khoảng 31% dân số nông thôn, triển khai tại 73/191 xã).

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 thiết lập khung nghiên cứu chi tiết: xác định 2 mục tiêu cụ thể, 3 nội dung nghiên cứu trọng tâm và thiết kế quy trình điều tra thực địa. Tác giả xây dựng phương án khảo sát 330 phiếu điều tra phân bổ đồng đều tại 6 phường trọng điểm (Phương Lâm, Đồng Tiến, Tân Thịnh, Hữu Nghị, Thịnh Lang, Chăm Mát), kết hợp phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên bằng Excel đối với hộ dân và chọn mẫu thuận tiện đối với hộ kinh doanh, người thu gom và cán bộ quản lý.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 3 mô tả tổng quan điều kiện khu vực nghiên cứu:

  • Vị trí và địa hình: Thành phố Hòa Bình nằm ở tọa độ 20°30' - 20°50' vĩ Bắc và 105°15' - 105°25' kinh Đông, cách Hà Nội 76 km. Địa hình đồi núi chiếm 75% diện tích tự nhiên, bao quanh trung tâm thành phố. Sông Đà chảy qua thành phố với chiều dài 23 km chia đô thị thành khu bờ trái và bờ phải.
  • Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ trung bình 25°C, lượng mưa trung bình năm 1.860 mm tập trung vào các tháng 7, 8, 9.
  • Kinh tế - xã hội: Năm 2019, cơ cấu kinh tế thành phố gồm dịch vụ (56%), công nghiệp - xây dựng (39,7%), nông lâm thủy sản (4,3%); thu nhập bình quân đầu người đạt 63,5 triệu đồng/người/năm. Dân số thành phố năm 2018 là 101.000 người, mật độ 704 người/km².
  • Quy mô 6 phường nghiên cứu:
    • Phường Phương Lâm: Dân số 10.517 người, diện tích 3,30 km².
    • Phường Đồng Tiến: Dân số 10.712 người, diện tích 2,07 km².
    • Phường Tân Thịnh: Dân số 8.606 người, diện tích 3,92 km².
    • Phường Hữu Nghị: Dân số 9.315 người, diện tích 3,55 km².
    • Phường Thịnh Lang: Dân số 4.534 người, diện tích 2,88 km².
    • Phường Chăm Mát: Dân số 8.165 người, diện tích 2,36 km².

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm chính:

  • Nguồn phát sinh và khối lượng RTN: Rác nhựa phát sinh từ 5 nguồn chính (hộ gia đình, cơ quan/trường học, hộ kinh doanh, đường phố, y tế). Tổng lượng rác nhựa phát sinh tại 6 phường là 738 kg/ngày (bình quân 123 kg/phường/ngày). Mức phát sinh bình quân đầu người là 14,23 g/người/ngày.
  • Thành phần rác nhựa: Túi nilon chiếm tỷ lệ cao nhất (55%), tiếp theo là chai nhựa (16%), cốc nhựa (11,4%), ống hút (6,9%), hộp xốp (5,7%) và các sản phẩm khác (5,3%). Tại 60 hộ kinh doanh, túi nilon chiếm hơn 67% sản phẩm nhựa dùng một lần bán ra với mức tiêu thụ trung bình xấp xỉ 3 kg/hộ/ngày.
  • Thực trạng phân loại và xả rác: 51% hộ gia đình có phân loại rác nhựa (bán phế liệu), 49% không phân loại; tuy nhiên chỉ 36% trong số đó thực hiện thường xuyên. Cách thức xả thải: 55% tập kết tại nơi thu gom, 43% xả ra bãi rác chung, dưới 2% đổ hố vườn hoặc tự đốt.
  • Hạ tầng và công tác thu gom, xử lý: Công ty CP Môi trường đô thị Hòa Bình thực hiện thu gom (hộ gia đình 2 ngày/lần, nhà hàng/khách sạn 2 lần/ngày, KCN 2 lần/tuần). Toàn thành phố mới lắp đặt 25 thùng rác công cộng (loại 60L và 80L) tại khu du lịch, công viên và trục đường chính chưa có thùng rác. Bãi rác Dốc Búng (phường Tân Hòa) đã quá tải, rác thải chuyển về bãi rác Lương Sơn (tiếp nhận >55 tấn/ngày, hiện tồn đọng khoảng 150.000 tấn rác), không có lớp lót đáy chống thấm, nước rỉ rác chưa được xử lý triệt để gây ô nhiễm nguồn nước sông Đà.
  • Nhận thức và đề xuất giải pháp: 58% người được hỏi không biết về tác hại của chất thải nhựa. Gần 100% đối tượng điều tra ủng hộ việc sử dụng sản phẩm thân thiện thay thế nhựa dùng một lần, trong đó 66% khẳng định yếu tố quyết định là giá thành sản phẩm thay thế phải rẻ hơn hoặc bằng sản phẩm nhựa dùng một lần.

Chương 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Chương 5 tóm tắt các kết quả đạt được về khối lượng phát sinh (14,23 g/người/ngày), chỉ ra các tồn tại chính (nhận thức hạn chế, phân loại chưa triệt để, xử lý chủ yếu là chôn lấp hở) và đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền thành phố Hòa Bình về việc ban hành quy chế phân loại rác tại nguồn, hỗ trợ giá cho các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường và đầu tư nâng cấp hạ tầng thu gom, xử lý rác thải.


Kết quả và đóng góp

1. Số liệu thực trạng phát sinh và quản lý rác thải nhựa

Bảng 1: Khối lượng chất thải nhựa phát sinh và chỉ số bình quân đầu người tại 6 phường

STT Phường nghiên cứu Số nhân khẩu (người) Khối lượng RTN phát sinh (kg/ngày) Mức phát sinh bình quân (g/người/ngày)
1 Phường Phương Lâm 10.517 125 11,89
2 Phường Đồng Tiến 10.712 170 15,87
3 Phường Tân Thịnh 8.606 68 7,90
4 Phường Hữu Nghị 9.315 125 13,42
5 Phường Thịnh Lang 4.534 130 28,67
6 Phường Chăm Mát 8.165 120 14,70
Tổng 6 phường 51.849 738 14,23 (Trung bình)

So sánh chỉ số phát sinh bình quân đầu người tại khu vực nghiên cứu (14,23 g/người/ngày) với các địa phương khác trong văn bản:

  • Thấp hơn mức trung bình toàn quốc (15,95 g/người/ngày).
  • Thấp hơn Thành phố Hồ Chí Minh (22,24 g/người/ngày) và Cần Thơ (17,24 g/người/ngày).
  • Cao hơn tỉnh Quảng Ninh (10,00 g/người/ngày).

Bảng 2: Tỷ lệ phân loại chất thải nhựa tại hộ gia đình thuộc 6 phường

STT Phường nghiên cứu Có phân loại RTN (%) Không phân loại RTN (%)
1 Phường Phương Lâm 70,0 30,0
2 Phường Đồng Tiến 53,4 46,6
3 Phường Tân Thịnh 73,9 26,1
4 Phường Hữu Nghị 29,8 70,2
5 Phường Thịnh Lang 9,25 90,75
6 Phường Chăm Mát 73,9 26,1
Trung bình Toàn khu vực khảo sát 51,0 49,0

Mặc dù tỷ lệ có phân loại bình quân đạt 51% (cao hơn mức trung bình 34% tại một số tỉnh theo nghiên cứu của Trần Thu Hương năm 2019), nhưng tính ổn định chưa cao: chỉ có 36% số hộ thực hiện thường xuyên, 64% chỉ thỉnh thoảng mới phân loại.

Bảng 3: Nhận thức về tác hại của chất thải nhựa theo nhóm đối tượng điều tra

STT Đối tượng phỏng vấn Tổng số mẫu (phiếu) Có biết tác hại (%) Không biết tác hại (%)
1 Hộ gia đình 246 45 55
2 Người thu mua phế liệu 12 42 58
3 Hộ kinh doanh 60 23 77
4 Cán bộ quản lý môi trường 12 58 42
Trung bình Chung toàn bộ mẫu điều tra 330 42 58

Khảo sát ghi nhận sự mâu thuẫn trong chuỗi thu gom: Túi nilon chiếm tỷ lệ phát sinh cao nhất (55% trong sinh hoạt dân cư và 67% tại hộ kinh doanh), nhưng 67% người thu gom phế liệu chỉ tập trung thu gom chai nhựa (khối lượng thu mua trung bình đạt 35 kg/người/ngày) và không thu mua túi nilon do giá trị kinh tế thấp.

2. Các giải pháp do tác giả đề xuất

  1. Giải pháp thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần:

    • Ưu tiên thay thế túi nilon bằng túi vải nhẹ, làn cói, sản phẩm mây tre đan, gói thực phẩm bằng lá chuối/lá dong; thay thế ống hút nhựa bằng ống hút tre, ống hút giấy.
    • Cơ chế chính sách giá: Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thân thiện môi trường để hạ giá thành sản phẩm thay thế (đáp ứng tiêu chí "giá rẻ hơn hoặc bằng nhựa một lần" do 66% người dân yêu cầu).
  2. Giải pháp tuyên truyền và giáo dục:

    • Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào trường học, bãi bỏ quy định bắt buộc bọc sách vở bằng bìa nilon; phát động phong trào thu gom phế liệu đổi lấy cây xanh.
    • Đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn và nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý môi trường cơ sở (khắc phục tỷ lệ 42% cán bộ chưa hiểu rõ tác hại rác nhựa).
  3. Giải pháp phân loại tại nguồn và thu gom, vận chuyển:

    • Cung cấp miễn phí hoặc trợ giá bao bì/thùng rác chuyên dụng có màu sắc phân biệt để người dân thực hiện phân loại rác thải tại nguồn.
    • Bổ sung lắp đặt thùng rác công cộng có ngăn phân loại tại các công viên, dọc tuyến đường chính (đặc biệt tuyến đường 353 hiện chưa có thùng rác).
    • Nâng cấp phương tiện vận chuyển rác chuyên dụng kín khít, loại bỏ các xe thu gom cũ nát gây rỉ nước rác và rơi vãi chất thải.
    • Khắc phục tình trạng quá tải và ô nhiễm tại bãi rác Lương Sơn: lót đáy chống thấm, xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác đạt chuẩn, phủ đất và trồng cây cách ly.
  4. Giải pháp về cơ chế, chính sách và chế tài:

    • Ban hành các quy định quản lý chuyên biệt đối với chất thải nhựa ở cấp thành phố và phường/xã.
    • Thiết lập chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi không phân loại rác tại nguồn và xả rác bừa bãi tại nơi công cộng.

3. Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về chỉ số phát sinh chất thải nhựa sinh hoạt (14,23 g/người/ngày) và thành phần cơ học của rác nhựa tại 6 phường đô thị trung tâm thành phố Hòa Bình.
  • Xác định điểm nghẽn cốt lõi trong chuỗi quản lý chất thải địa phương: Sự chênh lệch giữa tỷ lệ phát sinh túi nilon cao (55%) và cơ chế thu gom tự phát của lực lượng ve chai chỉ tập trung vào chai nhựa (67%).
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách về mối quan hệ giữa yếu tố giá thành sản phẩm thay thế (66% ý kiến yêu cầu giá rẻ hơn hoặc bằng) với khả năng thành công của chính sách giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:

    • Phạm vi khảo sát mới tập trung vào khu vực đô thị (6 phường trung tâm: Phương Lâm, Đồng Tiến, Tân Thịnh, Hữu Nghị, Thịnh Lang, Chăm Mát), chưa bao quát 2 phường còn lại và 7 xã khu vực nông thôn của thành phố Hòa Bình.
    • Số liệu khối lượng phát sinh chủ yếu dựa trên phương pháp ước lượng của cán bộ quản lý và kết quả phỏng vấn bảng hỏi xã hội học, chưa tiến hành cân đo phân loại vật lý trực tiếp theo từng mẻ rác tại các hộ gia đình theo chu kỳ nhiều ngày liên tục.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi điều tra, lấy mẫu phân tích thành phần cơ học và khối lượng chất thải rắn sinh hoạt trên toàn bộ 15 đơn vị hành chính xã, phường của thành phố Hòa Bình theo các mùa khác nhau trong năm.
    • Nghiên cứu sâu về tính khả thi tài chính và kỹ thuật của các mô hình công nghệ xử lý tiên tiến (như đốt rác phát điện, nhiệt phân tái chế nhựa thành nhiên liệu) phù hợp với quy mô chất thải của tỉnh Hòa Bình.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường: Tham khảo phương pháp xây dựng bảng hỏi điều tra xã hội học môi trường, cách thức phân bổ mẫu khảo sát đa nhóm đối tượng (kết hợp hộ dân, hộ kinh doanh, người thu mua ve chai và cán bộ quản lý).
  • Cán bộ quản lý nhà nước tại địa phương (UBND thành phố Hòa Bình, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Công ty CP Môi trường đô thị Hòa Bình): Tham khảo số liệu hiện trạng phát sinh rác nhựa, tình trạng quá tải bãi rác Lương Sơn và phản hồi của người dân để xây dựng phương án phân loại rác tại nguồn và quy hoạch điểm tập kết rác hợp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng chất thải nhựa sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người tại 6 phường của thành phố Hòa Bình là bao nhiêu? Theo kết quả điều tra và tính toán của khóa luận, lượng rác thải nhựa sinh hoạt phát sinh tại 6 phường nghiên cứu là 738 kg/ngày trên tổng số 51.849 nhân khẩu, tương đương mức phát sinh bình quân là 14,23 g/người/ngày. Phường Thịnh Lang có mức phát sinh bình quân cao nhất (28,67 g/người/ngày) và phường Tân Thịnh có mức phát sinh thấp nhất (7,90 g/người/ngày).

2. Loại rác thải nhựa nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sinh hoạt và thực trạng thu gom loại rác này ra sao? T