Chương 1 TÔNG QUAN 1. Khu công nghiệp 1. Khái niệm Theo thuật ngữ tiếng Anh, KCN có thể được dùng là Industrial estates,industrial zone (IZ), export processing zone (EPZ) hay industrial park (IP), day là những khái niệm đã trở lên khá phổ biến ở nhiều nước trên thé giới. Cac KCN được thành lập ở nhiều nước nhằm thực hiện mục tiêu thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài và thực hiện đây nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước, hướng về xuất khẩu (Asian Development Bank, 2014).
Khái niệm cụ thể về KCN ở một số nước như sau: Ở Philippine, theo luật về các KKT đặc biệt 1995, KCN được định nghĩa như sau: “KCN là một khu đất được chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một qui hoạch toàn diện dưới sự quan lý liên tục thống nhất va với các qui định đối với cơ sở hạ tầng cơ bản và các tiện ích khác, có hay không có các nhà xưởng tiêu chuẩn và các tiện ích công cộng được xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN” (Reyes- Macasaquit, 2008). Ở Thái Lan, đạo luật Cục KCN năm 1979 định nghĩa: “KCN có nghĩa là KCN nói chung hoặc KCX”, trong đó: “KCN nói chung” có nghĩa là diện tích được dùng vào sản xuất công nghiệp và các công việc khác liên quan đến sản xuất công nghiệp. Từ các khái niệm ở trên có thể thấy quan niệm về KCN giữa các nước cũng không đồng nhất, nhưng thường được hiểu là một khu đất được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tông thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp tương hợp với hạ tầng cơ sở, các tiện íchcông cộng, các dịch vụ phục vụ và hỗ trợ (Jomo, 2019). Ở Việt Nam khái niệm về KCN đã được trình bày tại nhiều văn bản pháp luật như Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định 192/1994/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật đầu tư nước ngoài năm 1996; Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/1997/ND - CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ, Luật đầu tư năm 2005.
Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu trong Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192/1994/ND - CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ thì KCN được hiểu là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống (Chính phủ, 1994). Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về khu công nghiệp được hiểu như sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xácđịnh,được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quydinh của Chính phủ (Chính phủ, 2008). Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dich vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp theo quy định của Chính phủ. Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể (Chính phủ, 2008).
Tóm lại, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thâm quyền ra quyết định thành lập. Tình hình phát triển KCN trên thé giới, trong nước và tỉnh Bình Phước a. Trên thế giới Phần lớn các nước châu Á đã đi trước chúng ta trên con đường công nghiệp hoá, trong khi ở các nước này cũng có một số nét tương đồng với chúng ta vì vậy chúng ta phải nghiên cứu những kinh nghiệm của họ từ tổ chức, quan lý hoạt động của các KCN (Phạm Xuân Hậu, 2006). Phát triển các KCN ở Thái Lan Bắt đầu từ 1972 đến nay, Thái Lan đã có khoảng 64 KCN trong vòng 30 năm Thái Lan cũng trở thành nước “Con rong” thứ 2 Đông Nam A (sau Singapore) (Jomo, 2019).
Chính phủ Thái Lan có chủ trương phát triển cân đối lãnh thé bằng cách thực hiện chính sách ưu đãi đặc biệt khác nhau giữa các khu vực (thuế nhập khâu thiết bị máy móc có nơi được miễn 50%, có nơi được miễn hoàn toàn) (Jomo, 2019). Từ cực phát triển (Băng Cốc) thiết lập các KCN với 3 vành dai bao quanh cực với những lợi thế khác nhau, mức độ ảnh hưởng của cực khác nhau. Quản lý thống nhất theo cơ chế thị trường một cửa nên giải quyết các thủ tục nhanh chóng. Chú ý quản lý môi trường hết sức chặt chẽ, bằng pháp luật với bằng kinh tế.
Doanh nghiệp phải chi tra chi phí cho quá trình xử lý chất thai (Jones và Pimdee, 2017). Phát triển các KCN 6 Malaysia Malaysia bắt đầu xây dựng các KCN từ năm 1970 đến năm 1997 đã có 166 KCN hoạt động (Jomo, 2019). Nét riêng của Malaysia là: Phát triển rộng mạng lưới các khu thương mại tự do, có chính sách ưu đãi đặc biệt với đầu tư nước ngoài (thời gian thuế đất có thể từ 50 năm đến 100 năm, cho tự do chuyên tiền lợi nhuận ra nước ngoài .) Phát triển nhiều doanh nghiệp chế xuất nằm ngoài KCX để tăng nguồn hàng nhập khẩu, tận dụng hết tiềm năng. Nhà nước hỗ trợ vốn lớn cho các KCN.
Xây dựng các KCN được xác định ở những nơi có vi trí thuận lợi, mặt bằng rộng, giá đất không cao, giao thông thuận lợi (nam ở ngoại vi thành phố, gần cảng, đầu mối giao thông,. Chú ý thích đáng đến vấn đề nhà ở, trường học, KCN, khu vui chơi giải trí cho gia đình, cá nhân người làm trong KCN (Nữ va cs, 2017). Trong nước Tại Việt Nam cũng đã có nhiều loại hình KCN đang được xây dựng, bao gồm: KCN, KCX, khu công nghệ sinh học; KCN sinh thái; KKT mở hay KKT thương mai khác. Tuy nhiên, hiện tại vẫn phô biến loại hình KCN truyền thống, KCN tập trung, KCX.
Về bản chất, đây là các KCN thuộc thế hệ đầu tiên với tiêu chuẩn và chất lượng thấp (Bộ Kế hoạch và đầu tư, 2009). Có thể phân loại KCN nằm trong phạm vi, đối tượng điều tiết của Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về ban hành quy chế KCN, KCX, KCNC thành ba nhóm chính sau: Các KCN mang tính truyền thống, được thành lập một cách phổ biến ở Việt Nam. Ban đầu, các KCN hình thành từ những năm 1960 và 1970 theo mô hình công nghiệp của Liên Xô cũ, tập trung ở một số thành phố khu vực phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Phú Thọ,. Về sau thì các KCN được xây dựng theo mô hình mới.
Đây là những khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thé và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương. Trong KCN không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài KCN phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở KCN. KCX ngoài những đặc điểm chung giống như các KCN truyền thống, các KCX còn có một số đặc điểm riêng, đó là: được quy hoạch phân tách khỏi phần nội địa bằng tường rào kiên có, việc ra vào khu phải thông qua sự kiểm soát của hải quan và các cơ quan chức năng. Ngày 25/01/1991 KCX Tân Thuận được thành lập, đây được xem như là khu công nghiệp tập trung đầu tiên ở Việt Nam Các khu công nghệ cao (KCNC), tại Việt Nam hiện có KCNC Hòa Lac, KCNC Sai Gòn.
Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất (Lê Thế Giới, 2008). Tại Bình Phước Trên địa bàn tỉnh có 8 KCN đã được chấp thuận chủ trương với diện tích quy hoạch là 5.244 ha, trong đó có 4 KCN được giữ nguyên tên và diện tích (KCN Bac Đồng Phú, KCN Nam Đồng Phú, KCN Sài Gòn — Bình Phước và KCN Becamex — Bình Phước); có 4 KCN được chia nhỏ thành nhiều KCN nên có thay đổi tên và diện tích như sau : KCN Chon Thành chia thành 3 KCN: Chon Thành I, Chon Thành II và Bình Phước — Dai Loan. KCN Minh Hưng chia 2 KCN: Minh Hưng — Hàn Quốc, Minh Hung III. KCN Tân Khai chia thành 5 KCN: Tân Khai I, Tân Khai II, Tan Khai 45 ha, Việt Kiều và Thanh Bình.
KCN Dong Xoài chia thành 5 KCN: Đồng Xoài I, Đồng Xoài II, Đồng Xoài II, Đồng Xoài IV và Dai An — Sai Gòn. Như vậy, thực tế là 19 KCN với diện tích thực tế: 5.244ha, chỉ tiết quy hoạch các KCN thể hiện qua bảng 3. Thống kê các dự án KCN tỉnh Bình Phước Quy mô diện tích STT Khu công nghiệp Vị trí dự án (ha) I ˆ KCNCHƠN THÀNH 682 I1 KCN Chơn Thanh I 125 2 KCN Chơn Thành II Huyện Chơn Thành 76 3 KCN Bình Phước-Đài Loan 481 II KCN MINH HUNG 485 4 _ KCN Minh Hưng-Hàn Quốc 193 5 KCN Minh Hung II PHRỆN DHHH DẦNH 292 Ill KCN TÂN KHAI 600 6 KCN Tân Khai I Huyện Hon Quản 63 Quy mô diện tích TT Khu công nghiệp Vi trí dự án (iat) 7 KCN Tan Khai II 298,18 8 KCN Tân Khai 45 ha 45 9 KCN Viét Kiéu 101,82 10 KCN Thanh Bình 92 IV KCN DONG XOÀI 755 11 KCN Ding XoàiI 163 12 KCN Đồng Xoài II 90 13. KCN Đồng Xoài III Thị xã Đồng Xoài 125 14_ KCN Đồng Xoài IV 92 15_ KCN Đại An- Sai Gòn 285 V KCN BAC DONG PHU 200 gash Huyện Đồng Phú, 16 KCNB Phú td 200 ác Dong Phú thị xã Đồng Xoài VI KCN NAM DONG PHU Tả 17 KCN Nam Đồng Phú Huyện Đồng Phú 72 VII KCN SAI GON-BINH ap PHUOC : 18 KCN Sài Gòn - Binh Phước Huyện Chơn Thành 450 VII ˆ KCN BECAMEX - BÌNH Sch PHUOC , 19 KCN Becamex-Bình Phước Huyén Chon Thanh 2.244 Nguôn: Ban Quan lý Khu kinh tế tinh Bình Phước, năm 2020 1.
Môi trường và ô nhiễm môi trường 1. Môi trường Theo Mục 1, Điều 3, Luật số 55/2014/QH13 - Luật Bảo vệ môi trường: Môi trường bao gôm các yêu tô tự nhiên và vật chât nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng dén đời sông, sản xuat, sự tôn tại, phát triên của con người và vi sinh vật. Day là khái niệm rộng, bao gôm các yêu tô tự nhiên và vật chât nhân tạo được nhiêu người hiểu như môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.