Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học tích hợp nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS. Chương 2: Phát triển năng lực vận dụng kiến thức thông qua dạy học tích hợp chương Nitơ - Photpho Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC THÔNG QUA DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh và DHTH, Chúng tôi đã tìm hiểu và nhận thấy có một số công trình khoa học, một số luận văn thạc sĩ có liên quan như sau: - Nguyễn Văn Khánh (2012), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH có nội dung thực tiễn để phát triển NLVDKT của HS THPT tỉnh Nam Định (phần hữu cơ Hóa học lớp 12 nâng cao), Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – ĐHQG Hà Nội.
- Phan Thị Nhung (2014), Phát triển NLVDKT cho HS thông qua HTBT phần hiđrocacbon – Hóa học 11 nâng cao, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội. - Đặng Thị Thanh Thủy (2015), Phát triển NLVDKT cho HS thông qua hệ thống bài tập phần hóa học vô cơ – Hóa học 10 nâng cao, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội. - Cao Văn Xưởng (2015), Xây dựng, tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập gắn với thực tiễn để phát triển năng lực vận dụng kiến thức Hóa học của HS THPT phần Hóa học vô cơ lớp 12, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội. - Trần Thị Diệp (2016), Dạy học chương Cacbon – Silic (Hóa học lớp 11) bằng bài tập thực tiễn nhằm phát triển NLVDKT cho HS, Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – ĐHQG Hà Nội.
- Nguyễn Thị Ngát (2016), Phát triển NLVDKT vào thực tiễn cho HS thông qua dạy học chương: Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học – Lớp 10, Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – ĐHQG Hà Nội. - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu về Môn Khoa học Tự nhiên cấp trung học cơ sở, biên soạn năm 1998. - Trần Thị Tú Anh (2009), Tích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong dạy học môn Hóa học lớp 12 Trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Thành phố Hồ Chí Minh. - Nguyễn Thị Thảo (2016), Xây dựng và sử dụng một số chủ đề dạy học tích hợp phần Ancol etylic – Polime (Hóa học hữu cơ 9), Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – ĐHQG Hà Nội.
- Nguyễn Quang Thái (2016), Dạy học chủ đề tích hợp nội dung thực tiễn với kiến thức hóa học chương Oxi – Lưu huỳnh (Lớp 10) nhằm nâng cao kết quả học tập 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của HS, Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – ĐHQG Hà Nội. - Vũ Thị Thủy (2016), Dạy học chủ đề tích hợp phần Cacbohiđrat và polime – Hóa học 12 nhằm phát triển NL giải quyết vấn đề cho HS THPT, Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – ĐHQG Hà Nội. - Lê Đức Tùng (2016), Phát triển NL giải quyết vấn đề cho HS thông qua dạy học các chủ đề tích hợp chương Cacbon – Silic (Hóa học 11), Luận văn Thạc sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – ĐHQG Hà Nội. Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc phát triển NLVDKT cho HS thông qua việc xây dựng, tuyển chọn và sử dụng hệ thống BTHH nhưng những đề tài nghiên cứu về NLVDKT thông qua DHTH còn rất ít vì DHTH là một trong những quan điểm dạy học còn mới mẻ.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có luận văn, luận án nào nghiên cứu về đề tài : “Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp trong dạy học chương Nitơ - Photpho nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh” và việc lựa chọn, nghiên cứu đề tài trên là cần thiết cho quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam. Dạy học tích hợp là phƣơng thức phát triển năng lực học sinh 1. Khái niệm tích hợp “Tích hợp” có nguồn gốc từ tiếng La tinh là: “Integration” với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Theo từ điển tiếng Anh - Anh, từ Integration có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể.
Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy [9]. Theo [9] thì tích hợp là hoạt động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ, huy động các yếu tố, nội dung gần và giống nhau, có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết, làm sáng tỏ vấn đề và cùng một lúc đạt được nhiều mục tiêu khác nhau.
Như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, qui định lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn. Nhờ có tính liên kết mà tạo nên được thực thể toàn vẹn và tính toàn vẹn được xác lập bởi sự thống nhất các thành phần liên kết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các kiểu tích hợp 1.
Tích hợp kiến thức Các tác giả xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa (SGK) xác định những nội dung có liên quan hoặc đan xen, thống nhất trong các lĩnh vực nội dung học tập và tổ hợp chúng lại với nhau. Kết quả của kiểu tích hợp kiến thức tạo ra các sản phẩm như: Môn học tích hợp: Được tạo ra do sự tích hợp các môn học truyền thống, song có sự sắp xếp lại kiến thức của một số ngành khoa học có liên quan với nhau. Môn học tích hợp được thực hiện hóa bằng chương trình tích hợp. Chương trình tích hợp: Được xây dựng trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm vào việc phát triển năng lực người học.
Điểm xuất phát của chương trình phải là những vấn đề do cuộc sống đặt ra, yêu cầu người học có đủ khả năng vận dụng kiến thức một cách tổng thể để giải quyết. Nguyên tắc tích hợp môn học: Để đạt được mức độ tích hợp tạo môn học mới, phải thiết kế mục tiêu môn học theo quan điểm hướng vào việc tạo năng lực cho người học; phải chấp nhận việc các kiến thức của các ngành khoa học liên quan chỉ đóng vai trò "công cụ" và được cấu trúc lại theo yêu cầu gắn với cuộc sống, hình thành cho người học năng lực giải quyết vấn đề; các kiến thức phải đảm bảo có ý nghĩa đối với đời sống, đảm bảo tính khoa học, hiện đại, cập nhật và phù hợp với khả năng nhận thức của HS. Có 4 mức độ tích hợp: Tích hợp trong nội bộ môn học, đa môn, liên môn, xuyên môn. Dạy học tích hợp Theo [15,17] dạy học tích hợp là việc GV sử dụng các phương pháp dạy học (PPDH) để thực hiện các nội dung dạy học được tích hợp trong chương trình theo các mức độ liên hệ, lồng ghép (tích hợp bộ phận), hoặc tích hợp toàn phần.
Hơn nữa, trong quá trình xây dựng chương trình, SGK các môn học, các tác giả có thể đã thực hiện tích hợp kiến thức để thực hiện mục tiêu giáo dục, nhưng không thể đầy đủ và phù hợp với mọi đối tượng HS. Vì vậy, trong quá trình dạy học, người GV phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung này cho phù hợp và phong phú hơn. Khái niệm dạy học tích hợp Theo “Từ điển giáo dục học”: DHTH là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập, của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com DHTH theo nghĩa hẹp là: việc đưa những vấn đề về nội dung của nhiều môn học vào một giáo trình duy nhất trong đó những khái niệm khoa học được đề cập đến theo một tinh thần và phương pháp thống nhất.
Theo [3] thì DHTH là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn đời sống. Trong [5] xác định DHTH là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng.thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, phát triển các NL cần thiết, nhất là NL giải quyết vấn đề. Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau. Tại sao phải dạy học tích hợp? Có thể có nhiều lí do để dạy học tích hợp, dưới đây là bốn lí do chính: 1.
Nhằm phát triển năng lực người học DHTH là dạy học xung quanh một chủ đề đòi hỏi sử dụng kiến thức, kĩ năng phương pháp của nhiều môn học trong tiến trình tìm tòi nghiên cứu. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc trao đổi và làm giao thoa các mục tiêu dạy học của các môn học khác nhau. Vì thế, tổ chức DHTH mở ra triển vọng cho việc thực hiện dạy học theo tiếp cận năng lực. Điểm khác biệt giữa DHTH với dạy học các môn riêng rẽ Phƣơng Dạy liên môn Dạy từng môn diện Miêu tả Mục tiêu là phục vụ cho mục tiêu Mục tiêu dạy là xử lí riêng chung của một số nội dung thuộc các rẽ của từng môn học môn khác nhau Bản chất Mục tiêu rộng, ưu tiên các mục tiêu Mục tiêu hạn chế hơn, của mục chung.