Nghiên cứu tác dụng bảo vệ thần kinh của Thiên ma câu đằng ẩm trên mô hình đột quỵ

Luận văn Dược sĩ phân tích tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh của Thiên ma câu đằng ẩm, một phương pháp tiềm năng trong điều trị và phòng ngừa đột quỵ.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

66
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thiên ma câu đằng ẩm Bảo vệ thần kinh hiệu quả

Thiên ma câu đằng ẩm là bài thuốc cổ truyền được nghiên cứu chứng minh hiệu quả trong bảo vệ tế bào thần kinhphòng chống đột quỵ não. Theo khóa luận tốt nghiệp của Lê Trịnh Lan Phương tại Trường Đại học Dược Hà Nội, bài thuốc này có tác dụng neuroprotective đáng kể trên mô hình đột quỵ não thực nghiệm MCAO (Middle Cerebral Artery Occlusion). Thành phần chính bao gồm thiên ma, câu đằng, đỗ trọng, phục thần và các vị thuốc hỗ trợ khác, giúp giảm thiểu tổn thương não bộ và cải thiện chức năng thần kinh. Bài thuốc kết hợp cơ chế chống oxy hóachống viêm từ các thành phần dược liệu tự nhiên.

1.1. Thành phần chính và công dụng

Bài thuốc Thiên ma câu đằng ẩm được cấu thành từ những vị thuốc quý hiệm. Thiên ma (Gastrodia elata Blume) có tác dụng an thần, hạ gió. Câu đằng (Uncaria rhynchophylla) giúp hạ huyết áp, chống co giật. Đỗ trọng (Eucommia ulmoides) bổ gan thận, tăng cường bảo vệ thần kinh. Phục thần (Poria cocos) an thần, lợi niệu. Các thành phần này hoạt động synergy để giảm tổn thương não bộbảo vệ tế bào thần kinh khỏi tình trạng thiếu máu.

1.2. Cơ chế bảo vệ neuroprotective

Cơ chế hoạt động của Thiên ma câu đằng ẩm dựa trên chống oxy hóachống viêm mạnh mẽ. Các hợp chất phytochemical trong bài thuốc giảm sản xuất ROS (Reactive Oxygen Species), ngăn ngừa apoptosis (chết tế bào lập trình) của tế bào thần kinh. Bài thuốc cũng cải thiện lưu thông máu não, giảm nhồi máu não thông qua hạ huyết ápchống co giật đặc trưng.

II. Đột quỵ não Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh

Đột quỵ não là bệnh lý nguy hiểm, là nguyên nhân tử vong và tàn tật hàng đầu toàn cầu. Theo Y học hiện đại, đột quỵ não xảy ra khi nhồi máu não (thiếu máu cục bộ) hoặc xuất huyết não (chảy máu não). Mô hình MCAO (Middle Cerebral Artery Occlusion - tắc động mạch não giữa) là mô hình thực nghiệm được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu bảo vệ tế bào thần kinh. Quá trình thiếu máu não dẫn đến tử vong tế bào thần kinh do stress oxy hóa tăng cao, viêm não, và tổn thương tế bào. Phòng chống đột quỵ erquires can be multi-faceted approach.

2.1. Yếu tố nguy hiểm gây đột quỵ

Các yếu tố nguy hiểm chính bao gồm tăng huyết áp (AH), xơ vữa động mạch, bệnh tim, đái tháo đường, và rối loạn lipid máu. Tuổi tácgiới tính nam cũng là yếu tố nguy hiểm quan trọng. Phòng chống đột quỵ hiệu quả cần kiểm soát những yếu tố này thông qua điều chỉnh lối sốngsử dụng thuốc phòng ngừa. Thiên ma câu đằng ẩm với tác dụng hạ huyết áp có thể giảm nguy cơ.

2.2. Tổn thương não trong nhồi máu não

Nhồi máu não gây ra thiếu máu não cục bộ, dẫn đến stress oxy hóa tăng cao. Các phân tử ROS (Reactive Oxygen Species) tấn công mô thần kinh, gây apoptosishoại tử tế bào thần kinh. Viêm não tiếp theo làm trầm trọng thêm tổn thương. Bảo vệ tế bào thần kinh qua chống oxy hóa là chìa khóa phòng chống đột quỵ hiệu quả.

III. Bảo vệ tế bào thần kinh Phương pháp và hiệu quả

Bảo vệ tế bào thần kinh (neuroprotection) là mục tiêu chính trong phòng chống đột quỵ hiện đại. Các phương pháp bảo vệ tế bào thần kinh bao gồm chống oxy hóa, chống viêm, hạn chế apoptosis, và tái lập tuần hoàn máu não. Nghiên cứu của Lê Trịnh Lan Phương sử dụng phương pháp nhuộm TTC (Triphenyltetrazolium Chloride) để đánh giá mức độ nhồi máu não. Bài thuốc Thiên ma câu đằng ẩm đã chứng minh làm giảm diện tích nhồi máu nãocải thiện điểm đột quỵ trên chuột thí nghiệm, với hiệu quả tương đương thuốc Edaravon (chứng dương dương tính).

3.1. Phương pháp đánh giá tác dụng

Mô hình MCAO được thực hiện bằng phẫu thuật để tắc động mạch não giữa (MCA) ở chuột. Sau đó, nhuộm TTC được áp dụng để tô màu các vùng không nhồi máu (màu đỏ) và nhồi máu (màu trắng). Điểm đột quỵ được đánh giá theo thang điểm thần kinh chuột, quan sát hành vi, chuyển động, và phản xạ. Bảo vệ tế bào thần kinh được đo lường qua giảm diện tích nhồi máu não.

3.2. Kết quả bảo vệ của Thiên ma câu đằng ẩm

Cao chiết Thiên ma câu đằng ẩm giảm đáng kể diện tích nhồi máu nãocải thiện điểm đột quỵ so với nhóm chứng. Cân nặng chuột được duy trì, chứng tỏ không có độc tính. Tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh được cho là do chống oxy hóa, chống viêm, và hạn chế apoptosis. So sánh với Edaravon, Thiên ma câu đằng ẩm cho hiệu quả phòng chống đột quỵ tương đương.

IV. Ứng dụng lâm sàng và hướng phát triển

Thiên ma câu đằng ẩm có tiềm năng ứng dụng lâm sàng lớn trong phòng chống đột quỵbảo vệ tế bào thần kinh. Y học cổ truyền và Y học hiện đại cần kết hợp để phát triển thuốc phòng chống đột quỵ an toàn và hiệu quả. Các nghiên cứu tiếp theo cần tiến hành thử nghiệm lâm sàng trên người để xác nhận hiệu quả và độ an toàn. Thiên ma câu đằng ẩm có thể được tối ưu hóa liều dùngdạng bào chế để tăng sinh khả dụng. Sự kết hợp Y học cổ truyền với công nghệ hiện đại sẽ mở rộng ứng dụng phòng chống đột quỵ hiệu quả.

4.1. Lợi thế của Thiên ma câu đằng ẩm

Thiên ma câu đằng ẩm là bài thuốc Y học cổ truyền với lợi ích: (1) Chất lượng hiệu quả cao từ bảo vệ tế bào thần kinh qua nhiều cơ chế. (2) Tính an toàn - được sử dụng hàng ngàn năm không độc tính lớn. (3) Chi phí thấp so với thuốc tân dược. (4) Ít tác dụng phụ hơn Edaravon. Phòng chống đột quỵ bằng bài thuốc truyền thống là hướng đi bền vững.

4.2. Hướng nghiên cứu và phát triển

Các hướng phát triển bao gồm: (1) Thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân đột quỵ não để xác nhận hiệu quả phòng chống đột quỵ. (2) Tách chiết và xác định các hợp chất hoạt tính chịu trách nhiệm bảo vệ tế bào thần kinh. (3) Phát triển dạng bào chế như viên nang, tiêm bộ máu não để tăng hiệu quả. (4) Nghiên cứu cơ chế phân tử chi tiết về stress oxy hóa, apoptosis, viêm não để hiểu sâu tác dụng.

28/12/2025
Lê trịnh lan phương nghiên cứu tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh trên mô hình đột quỵ não thực nghiệm của bài thuốc thiên ma câu đằng ẩm khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về đột quỵ não 1. Theo quan điểm của Y học cổ truyền 1. Định nghĩa Tai biến mạch máu não nào là một hội chứng bệnh được miêu tả trong phạm vi chứng trúng phong của Y học cổ truyền.

Nguyên nhân gây chứng trúng phong thường gặp ở người già, hoạt động các tạng tâm, can, thận bị giảm sút gây các hiện tượng âm hư, sinh đàm, phong động gây co giật, hôn mê. Tai biến mạch máu não là một chứng thuộc diện cấp cứu nội khoa cần dùng các phương tiện, thuốc của y học hiện đại để xử trí cấp cứu kịp thời [13]. Bệnh danh trúng phong chỉ thực sự bắt đầu được gọi trong cuốn “Kim Quỹ Yếu Lược” của tác giả Trương Trọng Cảnh. Những người có mạch phù, chính khí hư, tà khí thịnh dẫn đến khí ở kinh mạch tắc nghẽn là nguyên nhân phát sinh bệnh trúng phong.

Ở Việt Nam thế kỷ XIV, Thiền sư Tuệ Tĩnh từ thực tế người Việt dùng thuốc Việt, ông biện chứng trúng phong với hai mươi loại chứng nguy nan cần được kịp thời chữa trị bằng hai mươi phương dược, phù hợp với từng loại chứng. Ngày nay sách y học cổ truyền cũng như các thầy thuốc thực hành lâm sàng lấy tên "trúng phong hoặc bán thân bất toại" và mô tả, biện chứng trong hai thể "trúng phong kinh lạc” và “trúng phong tạng phủ” [11]. Phân loại Phân loại chứng trúng phong của Y học cổ truyền căn cứ vào tình trạng hư thực, nông sâu, gốc ngọn của bệnh. Nếu chỉ có liệt nửa người không có hôn mê gọi là trúng phong kinh lạc, có hôn mê gọi là trúng phong tạng phủ.

Trong “Trúng phong tạng phủ” lại chia ra làm hai loại: nếu hôn mê kiểu co cứng gọi là chứng bế thuộc thực; còn kiểu liệt mềm, trụy mạch gọi là chứng thoát thuộc hư; gốc bệnh do can, thận, tâm giảm công năng hoạt động gây rối loạn về tinh, khí, thần; ngọn bệnh do phong, hoả, đàm, gây nhiễu loạn [12]. - Trúng phong kinh lạc: Liệt nửa người không có hôn mê do tai biến mạch máu não. + Triệu chứng: liệt mặt, lưỡi lệch về bên lành, liệt nửa người, thoáng mất ý thức, hoa mắt, chóng mặt, mạch huyền tế sác thuộc chứng âm hư hoả vượng hay gặp ở người cao huyết áp; xơ cứng động mạch thể can thận âm hư; nếu chân tay co quắp miệng sùi bọt, cử động lưỡi khó khăn, rêu lưỡi trắng dày, mạch phù hoạt hoặc huyền hoạt thuộc chứng phong đàm hay gặp ở người cao huyết áp tạng béo có cholesterol máu cao. + Phương pháp chữa: tư âm tiềm dương (nếu do âm hư hoả vượng); trừ đàm thông lạc (nếu do phong đàm).

- Trúng phong tạng phủ: Tai biến mạch máu não có hôn mê 3 + Chứng bế: Thể liệt cứng do dương khí thịnh, bệnh ở tại tạng tâm và can với triệu chứng điển hình như 2 tay nắm chặt, co quắp, 2 hàm răng nghiến chặt, khò khè mất độ, người nóng, chất lưỡi vàng, không ra mồ hôi, táo, rêu lưỡi vàng dày, mạch hoạt sác hữu lực. Phương pháp chữa: tức phong, thanh hoả, tiêu đàm, khai khiếu + Chứng thoát: Thể liệt mềm, bệnh tại tâm và thận do phần âm hư phần dương nổi lên làm âm dương không ký tế với nhau là chứng bệnh nguy hiểm. Triệu chứng: hôn mê mắt nhắm, mồm há, chân tay mềm duỗi, đái ỉa dầm dề, ra mồ hôi nhiều, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh, lưỡi nhạt, mạch tế sác, trầm tế muốn mất. Phương pháp chữa: hồi dương, hồi âm, cứu thoái [12].

Cơ chế bệnh sinh Trúng phong khởi phát do nhiều cơ chế phức tạp, nhưng cốt lõi là sự rối loạn âm dương, khí huyết nghịch hành. Nền tảng bệnh lý thường bắt nguồn từ can thận âm hư, tạo điều kiện cho can dương vượng lên. Cộng thêm tác động từ ăn uống thất thường, xáo trộn tình chí hoặc sự xâm nhập của ngoại tà, khí huyết theo đó mà xông ngược lên não, làm tắc nghẽn thần khiếu, dẫn đến hôn mê đột ngột, mất tri giác. Các yếu tố bệnh lý then chốt liên quan mật thiết đến phong, hỏa, đàm, khí trệ, huyết ứ và sự mất cân bằng chức năng của các tạng phủ [11].

Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân gây bệnh được chia làm ba loại: Ngoại nhân (lục dâm), Nội nhân (thất tình) và bất nội ngoại nhân. Việc phân định nguyên nhân chính yếu hay thứ yếu không thể rạch ròi mà thường có sự đan xen, kết hợp nhau gây bệnh. Mặc dù vậy nguyên nhân tập trung vào bốn nhóm gây bệnh chính là phong, hỏa, đàm và ứ [11]. Phương hướng điều trị Đã được trình bày trong phần phân loại 1.

Theo quan điểm của Y học hiện đại 1. Định nghĩa Lần đầu tiên thuật ngữ “đột quỵ” được ghi chép là vào năm 1599, khi cho rằng các triệu chứng đột ngột xuất hiện là “tai biến do Chúa”. Thuật ngữ này không được đưa vào từ điển y khoa thời bấy giờ và các bác sĩ sử dụng thuật ngữ “xuất huyết não”, một chẩn đoán đã có từ thời Hippocrates [13]. Năm 1970, Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa đột quỵ là “các dấu hiệu lâm sàng phát triển nhanh chóng của rối loạn chức năng não cục bộ (hoặc toàn bộ), kéo dài hơn 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong, không có nguyên nhân rõ ràng nào khác ngoài nguyên nhân do mạch máu”.

Năm 2013, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ đã cập nhật định nghĩa được họ xác nhận về đột quỵ thành định nghĩa bao gồm nhồi máu thầm lặng (bao gồm não, tủy sống và võng mạc) và xuất huyết thầm lặng 4 [13]. Theo công văn số 3312/QĐ-BYT ngày 05/11/2024, các khái niệm về nhồi máu não và chảy máu não (hay còn gọi là xuất huyết não) được định nghĩa như sau: - Nhồi máu não (NMN) cấp tính là một dạng của đột quỵ não đặc trưng bởi tình trạng mất đột ngột dòng máu lưu thông tới một vùng của não, dẫn đến tổn thương nhu mô não và mất chức năng thần kinh tương ứng [1]. Phân loại Đột quỵ não (thường gọi là đột quỵ hay tai biến mạch não) có hai thể lâm sàng chính tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra: Đột quỵ thiếu máu não và đột quỵ xuất huyết não. Đột quỵ do thiếu máu cục bộ (chiếm khoảng 87% tổng số trường hợp) là thể phổ biến nhất và thường xảy ra do tắc nghẽn động mạch não bởi huyết khối hoặc thuyên tắc làm giảm tưới máu não, trong khi đột quỵ do xuất huyết (chiếm khoảng 13% còn lại) chủ yếu do vỡ mạch máu nội sọ gây chảy máu vào nhu mô não hoặc khoang dưới nhện, dẫn đến tổn thương não lan tỏa và tăng áp lực nội sọ [4], [5].

Theo như định nghĩa về đột quỵ ở phần trên, đột quỵ thiếu máu não (NMN) cục bộ được đặc trưng bởi sự mất lưu thông máu đột ngột đến một khu vực của não do tắc nghẽn mạch bởi huyết khối hoặc cục tắc ở động mạch não, dẫn đến mất chức năng thần kinh tương ứng. Trong khi ở đột quỵ xuất huyết não (XHN), máu chảy trực tiếp vào nhu mô não với cơ chế thường là rò rỉ từ các động mạch nội sọ nhỏ bị tổn thương do tăng huyết áp mãn tính. Đột quỵ xuất huyết não ít phổ biến hơn đột quỵ do thiếu máu não. Các thống kê dịch tễ học cho biết chỉ có 8-18% đột quỵ là xuất huyết.

Tuy nhiên, đột quỵ xuất huyết có tỷ lệ tử vong cao hơn đột quỵ do thiếu máu não. Bệnh nhân bị XHN có thể có dấu hiệu thần kinh khu trú tương tự như NMN nhưng có xu hướng trầm trọng hơn. Bệnh nhân bị chảy máu nội sọ thường có dấu hiệu đau đầu, rối loạn tâm thần, co giật, buồn nôn và nôn, và/hoặc tăng huyết áp rõ rệt. Nhồi máu não và xuất huyết não khó có thể phân biệt được nếu như chỉ căn cứ vào các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng, vì vậy, cần chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) não mà hiện nay là bắt buộc [1].1: Phân loại đột quỵ [14] 1.

Cơ chế bệnh sinh Sinh lý bệnh của đột quỵ rất phức tạp và liên quan đến các cơ chế kích thích độc tính, các con đường gây viêm, tổn thương oxy hóa, mất cân bằng ion, apoptosis, hình thành mạch máu và bảo vệ thần kinh. Kết quả cuối cùng của chuỗi thiếu máu cục bộ do đột quỵ cấp tính gây ra là tế bào thần kinh chết cùng với tình trạng mất chức năng thần kinh không thể phục hồi [15]. Khoảng 80% các cơn đột quỵ có bản chất là do thiếu máu cục bộ và là kết quả của tình trạng tắc nghẽn do huyết khối của động mạch não chính hoặc các nhánh của nó. Tắc nghẽn mạch máu dẫn đến tình trạng thiếu oxy và năng lượng, sau đó là sự hình thành các loài oxy phản ứng, giải phóng glutamate, tích tụ canxi nội bào và gây ra các quá trình viêm.

Chuỗi sự kiện này, được gọi là chuỗi thiếu máu cục bộ, dẫn đến tổn thương mô không thể phục hồi (nhồi máu). Vùng nửa tối do thiếu máu cục bộ - tức là vùng mô não thiếu máu cục bộ xung quanh lõi nhồi máu - có khả năng cứu được nếu được điều trị thích hợp trong một cửa sổ điều trị cụ thể [16]. Nguyên nhân gây bệnh và yếu tố ảnh hưởng  Nguyên nhân Đột quỵ thiếu máu não là hậu quả của các nguyên nhân gây giảm hoặc tắc nghẽn dòng máu (huyết khối ngoại sọ hoặc nội sọ gây lấp mạch). Thiếu máu cục bộ và tổn thương tế bào thần kinh không hồi phục khi lưu lượng máu não dưới 18 ml/100g mô não/phút, tế bào chết nhanh chóng khi lưu lượng máu dưới 10ml/100g mô não/phút 6 [1].

Đột quỵ có thể do thiếu máu cục bộ hoặc xuất huyết, thường bắt nguồn từ huyết khối tại chỗ hoặc thuyên tắc từ xa. Dù hiếm gặp, đột quỵ cũng có thể xảy ra trong bối cảnh nhiễm trùng, trong đó vi khuẩn là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất [17]. Các bệnh lý mạch máu không do viêm mạch, nhiễm trùng, rối loạn huyết học, rối loạn đông máu, rối loạn chuyển hóa và ác tính là những nguyên nhân đột quỵ hiếm gặp khác với các biểu hiện lâm sàng khác nhau, do đó cản trở việc chẩn đoán sớm [18].  Yếu tố ảnh hưởng - Tuổi - Chủng tộc: người da đen hoặc gốc Tây Ban Nha có khả năng bị đột quỵ nặng hơn người da trắng [19].

- Giới tính: Đàn ông có nguy cơ đột quỵ cao hơn phụ nữ; đàn ông da trắng có tỷ lệ đột quỵ là 62,8/100.000 dân, tử vong 26,3% trong khi phụ nữ có tỷ lệ đột quỵ là 59/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 39,2% [1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ