Luận văn thạc sĩ ussh sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa công tác xã hội và phát triển cộng đồng trường đại học đà lạt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa công tác xã hội và phát triển cộng đồng, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2006

150
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẢN MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Đối tượng nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu

Khách thể và phạm vi nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Khái niệm thích ứng

1.2.2. Khái niệm hoạt động học tập và một số đặc điểm hoạt động học tập

1.2.3. Khái niệm sinh viên

1.2.4. Khái niệm Thích ứng với hoạt động học tập

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mẫu nghiên cứu

2.2. Các bước nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Cách đánh giá chung về sự thích ứng học tập

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng TƯHT của sinh viên Khoa CTXH & PTCĐ

3.2. So sánh mức độ TƯHT của sinh viên theo khách thể nghiên cứu

3.3. Kết quả một số trường hợp được nghiên cứu sâu

3.4. Một số yếu tố cơ bản tác động đến việc TƯHT của sinh viên

3.5. Nguyên nhân của thực trạng thích ứng học tập của sinh viên

3.6. Những đề xuất, nguyện vọng của sinh viên

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thích Ứng Học Tập Của Sinh Viên Khoa Công Tác Xã Hội

Sự thích ứng học tập của sinh viên Khoa Công tác xã hội Trường Đại học Đà Lạt là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Sinh viên không chỉ cần tiếp thu kiến thức mà còn phải phát triển các kỹ năng cần thiết để hòa nhập vào môi trường học tập mới. Việc hiểu rõ về thích ứng học tập giúp sinh viên có thể tự tin hơn trong quá trình học tập và phát triển bản thân.

1.1. Khái Niệm Thích Ứng Học Tập Là Gì

Thích ứng học tập được hiểu là khả năng của sinh viên trong việc điều chỉnh bản thân để phù hợp với yêu cầu học tập tại môi trường đại học. Điều này bao gồm việc phát triển các kỹ năng học tập, quản lý thời gian và xây dựng mối quan hệ với giảng viên và bạn bè.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Thích Ứng Học Tập

Thích ứng học tập không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn đến sự phát triển tâm lý của sinh viên. Những sinh viên có khả năng thích ứng tốt thường có thái độ tích cực hơn và đạt được kết quả học tập cao hơn.

II. Những Thách Thức Trong Thích Ứng Học Tập Của Sinh Viên

Sinh viên Khoa Công tác xã hội tại Trường Đại học Đà Lạt đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình thích ứng học tập. Những thách thức này có thể đến từ môi trường học tập, phương pháp giảng dạy và cả từ chính bản thân sinh viên.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Tiếp Cận Kiến Thức Mới

Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc tiếp cận kiến thức mới do phương pháp giảng dạy khác biệt so với bậc học phổ thông. Điều này đòi hỏi sinh viên phải có khả năng tự học và tìm kiếm thông tin một cách chủ động.

2.2. Áp Lực Tâm Lý Và Tình Trạng Stress

Áp lực từ việc học tập, kỳ vọng từ gia đình và xã hội có thể tạo ra tình trạng stress cho sinh viên. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tập trung và hiệu quả học tập của họ.

III. Phương Pháp Nâng Cao Sự Thích Ứng Học Tập Cho Sinh Viên

Để nâng cao sự thích ứng học tập, sinh viên cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện kết quả học tập mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết.

3.1. Phát Triển Kỹ Năng Tự Học

Sinh viên cần học cách tự học hiệu quả bằng cách lập kế hoạch học tập, sử dụng tài liệu tham khảo và tham gia các khóa học bổ sung. Kỹ năng tự học giúp sinh viên chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức.

3.2. Tạo Mối Quan Hệ Tích Cực Với Giảng Viên

Xây dựng mối quan hệ tốt với giảng viên không chỉ giúp sinh viên nhận được sự hỗ trợ trong học tập mà còn tạo cơ hội để trao đổi kiến thức và kinh nghiệm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Sự Thích Ứng Học Tập

Sự thích ứng học tập không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày của sinh viên. Những kỹ năng và kiến thức mà sinh viên học được sẽ giúp họ trong công việc tương lai.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Thích Ứng Học Tập

Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có khả năng thích ứng tốt thường có kết quả học tập cao hơn và có khả năng tìm kiếm việc làm tốt hơn sau khi tốt nghiệp.

4.2. Những Kinh Nghiệm Thành Công Từ Sinh Viên

Nhiều sinh viên đã chia sẻ kinh nghiệm của họ trong việc thích ứng với môi trường học tập mới, từ đó tạo động lực cho những sinh viên khác cùng cố gắng.

V. Kết Luận Về Thích Ứng Học Tập Của Sinh Viên Khoa Công Tác Xã Hội

Sự thích ứng học tập của sinh viên Khoa Công tác xã hội Trường Đại học Đà Lạt là một vấn đề cần được quan tâm. Việc nâng cao khả năng thích ứng không chỉ giúp sinh viên đạt được kết quả học tập tốt mà còn phát triển toàn diện bản thân.

5.1. Tương Lai Của Thích Ứng Học Tập

Trong tương lai, việc nghiên cứu và cải thiện sự thích ứng học tập sẽ tiếp tục là một lĩnh vực quan trọng trong giáo dục đại học, đặc biệt là trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của xã hội.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Hỗ Trợ Sinh Viên

Cần có các chương trình hỗ trợ sinh viên trong việc phát triển kỹ năng học tập và tâm lý, từ đó giúp họ dễ dàng hơn trong việc thích ứng với môi trường học tập mới.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa công tác xã hội và phát triển cộng đồng trường đại học đà lạt

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề” một cách khác: khi nói về con người, tức là vấn đề quan hệ “người xã hội” trở thành vấn đề chủ yếu, thì cái gì là nội dung mới của vấn đề “cơ thể - môi trường” L. Vygotxki đã chỉ rõ “Quá trình một đứa trẻ bình thường ăn nhập nền văn minh thường quyện thống nhất với các quá trình cơ thể chín muồi. Hai bình diện phát triến - tự nhiên và văn hoá - nhập vào nhau, tạo nên một sự hình thành thống nhất xã hội - sinh vật của nhân cách trẻ” [6; tr. Từ quan niệm về sự thống nhất biện chứng của hai mặt tự nhiên và văn hoá trong sự phát triển của trẻ em, L.Vygotxki đã đưa ra một tư tưởng mới về bản chất của sự thích nghi của con người.

Ông khẳng định: “Con người có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra ngoài phạm trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có chất lượng khác và theo một tổ chức mới”.Vygotxki gọi dạng thức hành vi chuyên biệt người này là “hành vi cấp cao” [6; tr. Hệ thống hành vi cấp cao này khác biệt về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất lượng so với hành vi sinh vật. Trước hết là ở các kích thích tạo ra chúng. Con người, khác với các động vật khác, tự tạo ra các kích thích tác động vào bản thân mình.

Hơn thế nữa, con người còn dùng các kích thích tự tạo này để làm chủ hành vi của chính mình: “Con người tự kiểm soát hành vi của chính mình bằng các kích thích - phương tiện tự tạo” [6; tr. Các kích thích - phương tiện được Vygotxki coi là chìa khoá để giải quyết bản chất vấn đề thích ứng tâm lý ở người; là vấn đề có tính nguyên tắc phân biệt phương thức thích ứng ở động vật và người. Theo ông, thích ứng theo nguyên tắc tín hiệu (phản xạ có điều kiện) là loại thích ứng chung cho cả người và động vật. Nhưng ở người, đây không phải là phương thức thích ứng đóng vai trò chủ đạo.

Phương thức thích ứng đóng vai trò chủ đạo ở người có nguyên tắc khác hẳn, không có ở động vật, đó là nguyên tắc dấu hiệu. Quá trình tín hiệu hoá phản ánh các mối quan hệ tự nhiên đảm bảo cho cơ thể đáp ứng kích thích của môi trường. Việc dấu hiệu hoá cho phép con người có khả năng tạo ra một loại cân bằng mới với môi trường - biến đổi chính môi trường và biến đổi hành vi của chính mình với tư cách là một chủ thể tích cực. Dấu hiệu là công cụ tâm lý để chủ thể điều chỉnh hành vi.

Dấu hiệu cũng như công cụ vật chất là khí quan xã hội, được hình thành trong lịch sử loài người. Cùng với dấu hiệu, “cuộc sống xã hội tạo ra tất yếu buộc hành vi cá thể phải tuân thủ các yêu cầu xã hội” [6; tr. Đó là loại hành vi đặc thù được quy định bởi xã hội. Đe có chúng, cá nhân cần phải lĩnh hội từ xã hội.

Mặt khác, để điều khiển những hành vi này cần có những nguyên tắc chuyên biệt người, đó là nguyên tắc tự kích thích và làm chủ bản thân. Nguyên tắc này có được ở cá nhân cũng nhờ sự chuyển hoá từ tác động xã hội bên ngoài thành tác động xã hội ở bên trong con người. Vygôtxki viết: “Mọi chức năng trong phát triển văn hoá của trẻ xuất hiện trên vũ đài hai lần, trong hai bình diện - lúc đầu trong bình diện xã hội rồi sau đó trong bình diện tâm lý, lúc đầu giữa con người với con người, rồi sau ở bản thân trẻ, tức là có sự chuyển hoá từ ngoài vào trong, dần dần thay đổi cấu trúc và chức năng” [6; tr. Với việc phát hiện ra dạng thức cấp cao của hành vi người, cơ chế của sự hình thành và điều khiển nó ở cá nhân.Vygôtxki đã thấy sự khác biệt cơ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản của sự thích ứng tâm lý - xã hội ở người và sự thích nghi sinh học ở động vật.

Theo đó, sự thích ứng của trẻ em trong môi trường xã hội một quá trình kép. Một mặt trẻ hình thành các dạng thức cấp cao của hành vi, mặt khác, hình thành các chức năng tâm lý cấp cao để trở thành chủ thể của các hành vi đó. Cả hai mặt của quá trình này đều được thực hiện bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hoá - xã hội. Những tư tưởng đúng đắn, biện chứng của Vygôtxki đã được các nhà tâm lý học Xôviết kế thừa, phát triển và cụ thể hoá.

Quan điểm của ông cũng là kim chỉ nam cho việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của luận văn này. Xuất phát từ những luận điểm cơ bản của tâm lý học Macxit được khởi xưởng bởi Vygôtxki, A.Leonchiep đã phân tích sự khác biệt cơ bản giữa phát triển của con người với sự thích nghi của cá thể sinh học về nội dung và cơ chế. Ông viết “Phải nhấn mạnh riêng về sự khác biệt giữa quá trình ấy (tiếp thu, lĩnh hội ) với quá trình cá thể thích nghi với môi trường tự nhiên, vì gần như mọi người chấp nhận rằng, có thể đem khái niệm thích nghi, cân bằng với môi trường dùng nguyên vẹn vào cho sự phát triển cá thể người. Nhưng dùng khái niệm ấy vào cho người mà không có sự phân tích cần thiết, thì chỉ làm lu mờ sự phát triển thực sự của người” [8; tr.

Leonchiev chỉ rõ “Sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi theo đúng nghĩa của nó và các quá trình lĩnh hội, tiếp thu là ở chỗ quá trình thích nghi sinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài và năng lực của cơ thể và hành vi của cơ thể. Quá trình lĩnh hội hay tiếp thu thì khác. Đó là quá trình mang lại kết quả: cá thể tái tạo lại được những năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử” [8; tr. Và, “những năng lực và chức năng hình thành ở con người trong quá trình ấy là các cấu tạo tâm lý mới.

Đối với những cấu tạo này, các cơ chế và quá trình bẩm sinh, di truyền chỉ là điều kiện cần thiết bên trong (tiền đề) giúp cho các cấu tạo tâm lý mới có thể xuất hiện” [8; tr. Ông thừa nhận: “sự phát triển của con người cũng mang tính chất môi trường (tức là phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài), nhưng khác với tiến hoá động vật, sự phát triển của con người không phải là quá trình thích, nghi hiểu thẹo nghĩa của từ nảy” [8; O AI H O C Q U Ó C G IA HA NO I ] 'R U N G TU.-, '■■'-r T -: TH'„- ' /IẼN 1 ]7 ÌG LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Như vậy, bản chất và nội dung của sự thích ứng của người và sự thích nghi sinh vật có sự khác biệt về chất.Leonchiev cũng vạch ra sự khác biệt về cơ chế của sự hình thành hành vi động vật và người. Ở động vật, hành vi được hình thành bởi kinh nghiệm loài và cá thể, trong đó sự hình thành kinh nghiệm cá thể là đem hành vi loài thích nghi với những yếu tố biến động của môi trường bên ngoài.

Còn ở người, hành vi được hình thành bằng cơ chế lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử. Tất nhiên, cơ chế lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội quan hệ chặt chẽ với cơ chế kinh nghiệm cá thể. Với việc vạch ra sự khác biệt về chất giữa thích nghi sinh vật với thích ứng xã hội - tâm lý của con người, A.Leonchiev đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu hiện tượng này về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Với các phạm trù cơ bản: Hoạt động, ý thức và nhân cách, tâm lý học Mác xít đã giải quyết lý luận vấn đề lý luận về sự thích ứng tâm lý một cách khoa học và toàn diện.

Quá trình thích ứng tâm lý của con người gắn liền với quá trình hình thành nhân cách. Sự hình thành nhân cách chính là quá trình hình thành hai mặt chủ thể của thích ứng tâm lý. Nhờ nhân cách, sự thích ứng tâm lý trở thành một quá trình tích cực. Trong đó, con người không chỉ đáp ứng tác động của môi trường mà còn cải tiến nó một cách tích cực.

Tuy nhiên, sự thích ứng không đồng nhất với sự hình thành nhân cách. Đó là quá trình tương tác biện chứng giữa nhân cách và môi trường xã hội mà cả hai phía đều có sự thay đổi để trở nên phù hợp với nhau, đặc biệt là phía nhân cách. Vì vậy, sự hình thành nhân cách và mức độ của nó không tất yếu quyết định mức độ thích ứng của cá nhân. Nhưng sẽ không có sự thích ứng nếu không có sự hình thành nhân cách ở trình độ nhất định.

Vì vậy, có những người có nhân cách cao nhưng không thích ứng được trong những điều kiện môi trường xã hội nhất định hay người nhân cách mang bản chất của xã hội này nhưng có thể thích ứng với môi trường xã hội có bản chất khác. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau này một số các nhà Tâm lý học mác xít cũng tiếp tục nghiên cứu vấn đề này, tiêu biểu như: E. Ermolaeva đã định nghĩa và đưa ra những chỉ số đặc trưng cho sự thích ứng nghề nghiệp gồm: 1/Những chỉ số khách quan: chất lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, mức độ kỷ luật, địa vị xã hội; 2/Những chỉ số chủ quan: mức độ hài lòng về công việc, điều kiện trong công việc. Bà còn chỉ ra được thời điểm mà sự thích ứng xuất hiện, đó là: “Khi làm quen với điều kiện mới đó kéo theo những sự tiêu tốn sức lực nhất định”.

Mặc dù chỉ nghiên cứu lĩnh vực thích ứng lao động, nhưng ý kiến của E. Ermolaeva góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về sự thích ứng, nhất là vấn đề chỉ số của sự thích ứng.Andreeva phân biệt rõ các khái niệm thích ứng và thích nghi sinh học. Bà nhấn mạnh hai khái niệm này gần nghĩa nhưng càn chú ý phân biệt chúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thích Ứng Học Tập Của Sinh Viên Khoa Công Tác Xã Hội Trường Đại Học Đà Lạt" khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng trong học tập của sinh viên ngành công tác xã hội. Nghiên cứu này không chỉ giúp sinh viên nhận thức rõ hơn về phong cách học tập của bản thân mà còn cung cấp những chiến lược hữu ích để cải thiện hiệu quả học tập. Bằng cách hiểu rõ hơn về cách thức học tập, sinh viên có thể phát triển kỹ năng tự học và nâng cao khả năng tương tác trong môi trường học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp học tập và phát triển năng lực tự học, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ an investigation into the application of writing portfolios and its relationship with the first year english majored students learning autonomy at ulis vnu, nơi nghiên cứu mối quan hệ giữa việc sử dụng portfolio và sự tự chủ trong học tập của sinh viên.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học nhóm chương các định luật bảo toàn vật lí 10 trung học phổ thông với sự hỗ tự của phiếu học tập cũng sẽ cung cấp những phương pháp hữu ích để phát triển năng lực tự học trong môi trường học tập nhóm.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ promoting learner autonomy in enhancing reading comprehension skills for students at high school in thái bình an action research, tài liệu này tập trung vào việc nâng cao kỹ năng đọc hiểu và sự tự chủ trong học tập của học sinh trung học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp học tập hiệu quả và cách phát triển kỹ năng tự học.