CHƯƠNG I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong chương này nhóm nghiên cứu liệt kê các khái niệm liên quan đến đề tài như: hạn hán, thích ứng, cây hồ tiêu. Ngoài ra, nhóm còn thu thập tổng quan tài liệu nước ngoài và trong nước có đề cập đến vấn đề hạn hán và bàn luận về cây hồ tiêu nói chung. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Hạn hán Theo tổ chức Khí tượng thế giới WMO (2015), hạn hán là một hiện tượng tự nhiên được coi là thiên tai. Hạn hán bản chất là sự mất cân bằng lượng mưa và độ bốc hơi nước trong một thời gian cụ thể. Nó gây ra những thiệt hại to lớn đến môi trường sống của con người cũng như hủy hoại các loài thực vật, động vật, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm gia tăng nguy cơ cháy rừng. Hạn hán tác động đến các hoạt động kinh tế - xã hội như giảm diện tích cây trồng, năng suất và sản lượng cây trồng.
Hạn hán không có cách “phòng chống” mà chỉ có thể tránh và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Ảnh hưởng của hạn ngày càng nghiêm trọng hơn thể hiện với tần suất và thời gian kéo dài đợt hạn tăng lên, mức độ hạn khắc nghiệt, phạm vi hạn cũng mở rộng hơn nên đã gây rất nhiều khó khăn cho người dân, nghiêm trọng nhất là tình trạng thiếu điện, thiếu nước trên diện rộng. Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn do hiện tượng El Nino tăng lên làm cho lượng mưa ít hơn, thêm vào đó là tác động chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy…của con người dẫn đến hàng ngàn ha hoa màu bị mất trắng, nhiều người dân sống trong cảnh đói nghèo. Chính vì nhu cầu cấp thiết đó nghiên cứu về hiện tượng hạn hán là một trong những vấn đề đã và đang “nóng” thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới cũng như trong nước ta.
Trong xu thế nóng lên toàn cầu của BĐKH, sự biến đổi của hạn hán cũng hết sức phức tạp. Tại Việt Nam, hạn hán trong BĐKH được hiểu đơn giản là hiện tượng thời tiết khô không bình thường ở một khu vực do trong một thời gian dài không có mưa hay mưa không đáng kể. Song hạn không phải là hiện tượng thuần tuý vật lý, mà có sự tác động qua lại giữa nước tự nhiên với nhu cầu sử dụng nước của con người, vì thế định nghĩa Page | 13 chính xác về hạn là vấn đề phức tạp do phải cân nhắc rất nhiều mặt trong sự tương tác đó. 7 Hạn hán chủ yếu chia thành: Hạn khí tượng (Meteorological Drought): là một thời kỳ dài mưa ít hơn trung bình nhiều năm.
Hạn nông nghiệp (Agricultural Drought): là hạn khi mà thiếu độ ẩm đối với một thời vụ hay thời kỳ sản xuất trung bình. Điều này xảy ra ngay cả khi mưa ở mức trung bình, nhưng lại do điều kiện đất hay kỹ thuật canh tác đòi hỏi tăng lên. Hạn thuỷ văn (Hydrological Drought): là khi nước dự trữ có thể dùng được trong các nguồn như tầng ngầm, sông ngòi, hồ chứa tụt xuống mức thấp hơn trung bình thống kê. Điều này cũng có thể xảy ra ngay cả khi mưa trung bình, nhưng sử dụng nước tăng lên, làm thu hẹp mức dự trữ nước.
Đặc trưng của hạn hán thể hiện ở cường độ, thời gian và sự trải rộng theo không gian hạn hán (Wilhite, 2000). Đề tài chỉ đề cập tới sự thiếu hụt nước mưa và nước ngầm dưới lòng đất trong quá trình phát triển của cây hồ tiêu, những ảnh hưởng của sự thiếu hụt nước đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây hồ tiêu. Cường độ hạn hán chính là mức độ thiếu hụt lượng mưa hay mức độ ảnh hưởng hạn hán kết hợp với sự thiếu hụt đó. Cường độ hạn hán thường được xác định bởi sự chệch khỏi mức độ trung bình của các chỉ số khí hậu và liên quan mật thiết với thời gian xác định ảnh hưởng của hạn.
- Thời gian hạn hán chỉ khoảng thời gian một đợt hạn kéo dài. - Sự trải rộng theo không gian hạn hay chính là phạm vi hạn hán: hạn có thể sảy ra với diện tích hàng trăm km2 đến hàng triệu km2, đặc biệt là các đợt hạn nghiêm trọng có thể kéo dài mùa này sang mùa khác và ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn (WMO, 1975). Thích ứng (Adaptation) Trong hệ thống xã hội, thích ứng hiểu trong BĐKH là quá trình điều chỉnh theo khí hậu thực tế hoặc dự kiến để hạn chế thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có lợi. Trong hệ thống tự nhiên, thích ứng là quá trình điều chỉnh theo khí hậu hiện tại và theo những ảnh hưởng của khí hậu.
Sự can thiệp của con người có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh theo khí hậu dự tính (Báo cáo IPCC, 2012, trang 36).com/2012/03/17/m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-khai-ni%E1%BB%87m-khi- t%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%E1%BB%A7y-van/ Page | 14 Để thích ứng với hạn hán người dân phải điều chỉnh hành vi bằng biện pháp nhân tạo hoặc dựa vào ưu thế của tự nhiên có lợi cho mình làm giảm tác động cũng như thiệt hại đến mức tối thiểu đến sinh hoạt và sản xuất. Còn việc giảm như thế nào và giảm đến đến đâu phải tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ học vấn, kinh nghiệm, từng hoàn cảnh tự nhiên cụ thể…. Người dân có thể thụ động, điều chỉnh tích cực hoặc điều chỉnh tiêu cực, phòng tránh giảm nhẹ đến cuối cùng là khắc phục hậu quả của hạn hán. Cây hồ tiêu Cây hồ tiêu còn gọi là tiêu ăn, cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt (danh pháp hoa học: Piper nigrum) là một loài cây leo có hoa thuộc họ hồ tiêu (Piperaceae), thuộc loại cây thân thảo đứng hoặc leo bò trên vách đá hay bám trên các cây thân gỗ.
Thân lá có mùi thơm cay, lá hình tim, trồng chủ yếu để lấy quả và hạt, thường dùng làm gia vị dưới dạng khô hoặc tươi. Cây hồ tiêu có nguồn gốc ở Ấn Độ, mọc hoang trong các rừng nhiệt đới ẩm phía Tây vùng Ghats và Assam. Từ thế kỷ XIII, hồ tiêu đã được canh tác và sử dụng rộng rãi trong bữa ăn hàng ngày. Sau đó, cây tiêu được trồng phổ biến sang nhiều nước khác ở Đông Nam Á và Nam Á như Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Srilanka.
Ở Việt Nam, cây tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI nhưng đến thế kỷ XIX mới được canh tác tương đối quy mô ở vùng Hà Tiên – Kiên Giang. Sau năm 1975 mới du nhập vào Tây Nguyên và phát triển mạnh đến bây giờ. Giống tiêu ở Tây Nguyên chủ yếu là giống Lộc Ninh và Vĩnh Linh nguồn gốc từ các tỉnh miền trung Việt Nam.2 Tổng quan tài liệu 1.1 Tổng quan tài liệu nước ngoài Nổi bật lên trong nghiên cứu hạn trên quy mô toàn cầu là nghiên cứu của Niko Wanders và cộng sự (2010). Trong bài, tác giả đã phân tích ưu điểm, nhược điểm của 18 chỉ số hạn hán bao gồm cả chỉ số hạn khí tượng, chỉ số hạn thủy văn, chỉ số độ ẩm, rồi lựa chọn ra các chỉ số thích hợp để áp dụng phân tích các đặc trưng của hạn hán trong năm vùng khí hậu khác nhau trên toàn cầu: vùng xích đạo, vùng khô hạn cực, vùng nhiệt độ ấm, vùng tuyết, vùng địa cực.
Nhiều nghiên cứu cho thấy sự giảm lượng mưa đáng kể đi 8 Theo Lê Quang Bình đề tài “ Phân tích thực trạng kinh doanh xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam vào thị trường Mỹ và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu đến 2020” Page | 15 kèm với sự tăng nhiệt độ sẽ làm tăng quá trình bốc hơi, gây ra hạn hán nghiêm trọng hơn (Meshcherskaya A. và cộng sự, 1996). Trong những thập kỷ gần đây hạn hán xảy ra nhiều nơi trên thế giới, gây nhiều thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống con người và môi trường sinh thái. Hàng năm có khoảng 21 triệu ha đất biến thành đất không có năng suất kinh tế do hạn hán.
Trong gần 1/4 thế kỷ vừa qua, số dân gặp rủi ro vì hạn hán trên những vùng đất khô cằn đã tăng hơn 80%. Hơn 1/3 đất đai thế giới đã bị khô cằn mà trên đó có 17,7% dân số thế giới sinh sống. Đồng hành với hạn hán, hoang mạc hoá cộng sa mạc hoá trên thế giới cũng ngày càng lan rộng từ các vùng đất khô hạn, bán khô hạn đến cả một số vùng bán ẩm ướt. Diện tích hoang mạc hoá đã lên đến 39,4 triệu km2, chiếm 26,3% đất tự nhiên thế giới và trên 100 quốc gia chịu ảnh hưởng.
Nguy cơ đói và khát do hạn hán uy hiếp 250 triệu con người trên trái đất, kèm theo đó còn ảnh hưởng tới môi trường khí hậu chung toàn cầu (Yang Youlin - 2007). Tại Úc, từ năm 1965 đã thành lập tổ chức theo dõi và phục vụ phòng chống hạn hán (Bureau's Drought Watch Service) với sự liên kết giữa cơ quan khí tượng Úc (BOM) và cơ quan nông nghiệp trên toàn quốc đến tận các bang. Tổ chức này cung cấp thời điểm bắt đầu thống nhất để cảnh báo hạn trên toàn quốc. Những thông báo chính thức về hạn hán được kết hợp với những yếu tố khác như mưa và trách nhiệm của các cơ quan khác của chính phủ.
Kể từ khi thực hiện “Chính sách quốc gia về hạn hán” năm 1992, tổ chức này đã triển khai các công việc phân tích tình hình mưa. Các sản phẩm phân tích mưa được công bố thông qua bản tin thời tiết hoặc qua website của tổ chức này. Cũng giống như ở Mỹ, các thông tin viễn thám được ứng dụng rộng rãi trong việc xây dựng các sản phẩm về giám sát và cảnh báo hạn hán. Các nước ASEAN từ năm 1987 đã triển khai thử nghiệm nghiệp vụ Hệ thống theo dõi hạn hán (Drought Watch System - DWS) giống như ở Úc đặt Malaysia.
Lúc đầu chủ yếu tính toán lượng mưa tháng theo các tỷ lệ phần trăm, sau đó đưa ra thông tin vùng “thiếu hụt lượng mưa trầm trọng” (severe rainfall deficiency) và các “đợt hạn” (drought spell). Tổng quan tài liệu trong nước Tổng quan về hạn hán Đề tài tiêu biểu của tác giả Nguyễn Quang Kim,“Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ Tây Nguyên và xây dựng giải pháp phòng chống” (năm 2005) cũng bàn đến vấn đề hạn hán tại Tây Nguyên và miền Nam Trung Bộ.