mở đầu và kết luận) Phân thứ nhất, thị trường hàng điện tử thế giới, bao gồm: Phân tích thị trường hàng điện tử thế giới trong khoảng thời gian từ 1990 trở lại đây. Trong đó đi sâu phân tích một số trung tâm sản xuất và buôn bán chính của thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, các nước trong khu vực Đông Á-Thái Bình Dương và các nước khối ASEAN; phân tích những đặc điểm cơ bản và xu hướng phát triển của thị trường hàng điện tử thế giới trong thời gian qua về các mặt sản xuất, tiêu thụ, buôn bán, giá cả và triển vọng phát triển của thị trường hàng điện tử thế giới những năm tới. nhau, Â hận thứ hai, thị trường hàng điện tử Việt Nam: Nghiên cứu thị trường hàng điện tử trong nước cả vẻ tình hình cung ứng và tiêu thụ trong phạm vi từ 1990 đến nay. Phân tích nguyên nhân của thành tựu và tồn tại, những vấn đề đặt ra đối với phát triển thị trường hàng điện tử và một số dự báo về thị trường hàng điện tử Việt Nam đến 2010.
Phân thứ ba, xây dựng những quan điểm, những định hướng chính. và các chính sách, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường hàng điện tử Vi@hem. "in gitin : Phần thứ nhất THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TỬ THẾ GIỚI 1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TU THE GIỚI 1.
Vi trí, vại trò của ngành điên tử (rong nền kinh tế và thương mai thế Mặc dù ra đời chậm hơn so với các ngành công nghiệp khác, ngành „công nghiệp điện tử - tin học - viễn thông (ĐT-TH-VT) là ngành phát triển “hạnh và mạnh nhất trong sự phát triển chung của khoa học công nghệ trong hai thập kỷ qua. Các sản phẩm của ngành có hàm lượng trí tuệ cao, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật của thế giới, làm dịch chuyển mạnh mẽ cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế và các quan hệ văn hoá &ã hội. Công nghiệp điện tử - tin học - viễn thông được coi là công nghệ cơ sở không thể thiếu của xã hội hiện đại, có vai trò đặc biệt quan trọng trong công mgbidp hoá, hiện đại hoá: đẩy nhanh quá trình tự động hoá trong công nghiệp, giúp tối ưu hoá quá trình sản xuất, hợp lý hoá sử dụng tài nguyên, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Theo đánh giá chung về ngành ĐT- TH- VT thế giới, trong gần 20 nhóm ngành công nghiệp khác nhau, công nghiệp ĐT- TH- VT đứng thứ nhất : về thu hút lao động, đứng thứ hai về đoanh số trên vốn (sau ngành luyện kim), ‘img thứ ba về doanh số tuyệt đối (sau ngành lọc dầu và ô tô).
Ở Mỹ, khu vực ĐT- TH - VT chỉ chiếm 8,3% GDP, nhưng đã đóng góp 1/3 trong trưởng kinh tế và 1/2 về tăng năng suất lao động từ năm 1995 đến nay, với mức tăng trung bình 2,8%, gấp đôi so với giai đoạn từ 1973-1995. Một phần ba phát minh công nghệ mới được áp dụng vào sản xuất máy tính và bán dẫn. Cơ quan Kế hoạch kinh tế Nhật Bản cho biết, ĐT- TH - VT được coi là động lực chính có ảnh hưởng đến kinh tế nước này. Sự đóng góp của các sản phẩm điện tử như hàng bán dẫn cho xuất khẩu là rất đáng kể, tương tự như điện và ôtô thời kỳ trước đây.
a Các sản phẩm ĐT- TH cũng đã trở thành động lực tăng trưởng xuất khẩu của nhiều nước công nghiệp mới và các nước đang phát triển. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Singapore năm 1998 lên tới 66%, Malaixia - 60%, Đài Loan - 54%, Philipin - 51%, Han Quéc - 36,2%. Trong xu thế toàn cầu hoá, mạng hoá kinh tế toàn cầu, Việt Nam - một nước đang phát triển cũng không phải là ngoại lệ. Nghị quyết đại hội lần thứ VIHI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: ưu tiên phát triển ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin thành ngành kinh tế mũi nhọn.
ý đặc trựng co bản của thi trường hàng điên tử thế lới 9), Đặc điểm về sản phẩm. Đặc điểm nổi bật của công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin là phát triển với tốc độ rất nhanh, nhờ đó rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm. Cơ cấu sản phẩm thay đổi nhanh chóng, sản phẩm mới ra đời thường xuyên. Ví dụ như máy tính cá nhân - sản phẩm được coi là có vòng đời ngắn nhất: cứ 1,5 năm lại thay đổi gam một lân, riêng đối với mẫu kiểu máy thì thay đổi theo chu kỳ 6-8 tháng.
Trong 10 năm gần đây các đặc tính kỹ thuật và giá (rẻ pon) qo với máy tính điện tử đã tăng lên 150 lân. _ Các sản phẩm mới ra đời với tính năng đa dạng hơn, chất lượng cao hơn đã kích thích nhu cầu luôn đổi mới thiết bị và tạo nên thị trường tiêu thụ luôn luôn sống động, ngay cả với các khu vực thị trường được cơi là có mức tiêu thụ bình quân đầu người ở mức gần như bão hoà như Mỹ, Nhật Bản, EU. Tuy nhiên, các sản phẩm với trình độ công nghệ thấp hơn vẫn có thị trường tiêu thụ riêng, phục vụ cho khu vực thị trường có khả năng thanh toán thấp hơn. Việc nghiên cứu triển khai các sản phẩm điện tử mới trước hết đòi hỏi vốn đầu tư lớn và lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao.
Mat khác, đo đặc tính kế thừa và bảo mật cao trong sản xuất, hầu hết các sản phẩm điện tử nổi tiếng trên thế giới đều thuộc về các công ty đa quốc gia có tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ và nhân lực. Họ cũng là các nhà cung cấp chính các sản phẩm công nghệ cơ bản như linh kiện, thiết bị điện tử công nghiệp, thiết bị viễn thông. trong khi các nhà sản xuất có trình độ công nghệ thấp hơn chủ yếu sản xuất thiết bị điện tử đân dụng hoặc lắp ráp linh kiện. Các dong san phẩm khác nhau làm hình thành nên những đặc điểm khác biệt trên thị trường tiêu thụ cũng như thị trường cung ứng.
Đặc điểm về thị trường * Thị trường cung ứng Trong sản xuất hàng điện tử luôn có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các tập đoàn xuyên quốc gia để tạo ra các sản phẩm mới, làm công nghệ sản xuất thay đổi với tốc độ rất nhanh. Do vậy, công tác nghiên cứu triển khai là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của các hãng lớn. Ở đây khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tập đoàn kinh tế, giữa các nước trong sản xuất các sản phẩm điện tử, với mục đích hội đủ các điêu kiện cần thiết để có thể đứng vững trong cạnh tranh, các tập đoàn, các hãng vẫn phải tìm cách liên kết, hợp tác với nhau theo từng lĩnh vực, từng nhóm sản phẩm và lập nên mạng lưới sản xuất kinh doanh mang tính toàn cầu.
- Hình thức tổ chức kiểu mạng lưới là một đặc trưng của thị trường cung ứng hàng điện tử. Giữa các nước sản xuất có sự liên kết và bổ sung cho nhau. Các nước phát triển - Mỹ, Nhật Bản. thực hiện các dự án nghiên cứu và triển khai sản phẩm mới, cung cấp linh kiện và vốn; các công ty Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan.
sản xuất các loại chỉ tiết, cụm linh kiện, thiết bị ngoại dhiên2sviệc lấp ráp thành phẩm được tiến hành tại các nước có trình độ thấp eS eens chỉ phí rẻ hơn - Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan. ty “Trong những năm gần đây, do có lợi nhuận cao và do tầm chiến lược của ngành công nghiệp điện tử đối với nền kinh tế trong tương lai nên các nước đều đổ xô vào phát triển công nghiệp điện tử, dẫn đến khủng hoảng thừa các sản phẩm điện tử thông dụng. Tuy nhiên, về lâu dài thị trường điện tử vẫn đuôn rộng mở không ngừng cho các sản phẩm công nghệ cao, có những tính măng mới, phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại. “Qua trình phát triển của công nghiệp điện tử của thế giới là quá trình chuyển dịch đầu tư từ khu vực phát triển sang khu vực kém phát triển hơn do có sự chuyển dịch về lợi thế so sánh.
Đầu tiên là từ các nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ và Tây Âu sang các nước phát triển ở trình độ thấp hơn như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông,. và gần đây nhất là tới các nước ASEAN, Trung Quốc và Việt Nam hiện nay. Công nghiệp điện tử ở các nước phát triển đã tiến tới cấp độ cao hơn, sản phẩm làm ra có hàm lượng khoa học kỹ thuật Cao, có giá trị gia tăng cao. Kể từ giữa thập kỷ 1980, các hãng điện tử ở Nhật Bản và các nước NIEs đã thực thi chiến lược toàn cầu hoá hoạt động của mình bằng cách tìm kiếm các cơ sở sản xuất ở nước ngoài nhằm đối phó với những A nhân tố như gia tăng cạnh tranh quốc tế, gia tăng chính sách bảo hộ, gia tăng chỉ phí sản xuất và thay đối tỷ giá hối đoái.
* Thị trường tiêu thụ Chính sự phát triển như vũ bão của công nghiệp điện tử đã tạo ra các sản phẩm hết sức đa đạng và phong phú, không những đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của con người mà còn hướng dẫn nhu cầu như TV màn hình tỉnh thể lỏng, máy tinh thông minh, điện thoại có hình. Sự khác biệt vé cách thức tiêu thụ các sản phẩm điện tử là không nhiều giữa các nước và các khu vực. Ngoài những yếu tố về chất lượng, giá cả và mẫu mã, đối với sản phẩm điện tử người tiêu thụ còn quan tâm đến tính tiêu chuẩn hoá và độ tương thích của sản phẩm. _ˆ Trong tiêu thu hàng điện tử thì những nhân tố như: mức sống, điều kiện về cds ha tang (hé thong phát thanh truyền hình, hệ thống điện), trình độ dân trí.
có ảnh hưởng rất lớn khả năng tiêu thụ. Nắm bắt nhu cầu ở các khu vực thị trường khác nhau với những điều kiện phát qriển khác nhau có tác dụng rất lớn trong việc liêu thụ sản phẩm. Một đặc trưng trong buôn bán hàng điện tử trên thế giới là vai trò của nhãn hiệu sản phẩm. Các nhà sản xuất lớn thường có thương hiệu hàng hoá của riêng mình.
Người tiêu thụ thường coi thương hiệu sản phẩm như là yếu tố chứng nhận chất lượng hàng hoá và uy tín của nhà sản xuất.