Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung của truyện Nôm 1. Khái niệm truyện Nôm Truyện Nôm là thể loại thuộc loại hình tự sự, tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam. Tác phẩm được viết bằng thơ và sử dụng ngôn ngữ dân tộc (chữ Nôm) để sáng tác nên gọi là truyện thơ Nôm (thường gọi tắt là truyện Nôm).
Truyện Nôm trải qua quá trình phát triển lâu dài, là thể loại tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam. Những tác phẩm truyện Nôm đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI và phát triển thực sự mạnh mẽ ở thế kỷ XVIII, XIX. Với nội dung tư tưởng mang nhiều ý nghĩa tiến bộ, kết hợp với hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc (chữ Nôm, thể thơ lục bát), truyện Nôm đã biểu hiện sâu sắc truyền thống nhân đạo Việt Nam - một truyền thống quý giá của dân tộc. Là thể loại có vị trí quan trọng trong nền văn học trung đại Việt Nam, truyện Nôm đã được nghiên cứu trong rất nhiều công trình khoa học.
Trong những nghiên cứu đó, các tác giả đã đưa ra những định nghĩa, khái quát những đặc trưng cơ bản, điển hình nhất của thể loại này. Ở đây, chúng tôi có thể điểm qua một vài định nghĩa đáng chú ý. Nói về đặc trưng của truyện Nôm, trước hết cần chỉ ra được những nét cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển, thể thơ, ngôn ngữ. Từ những vấn đề cơ bản đó, các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn sách “Từ điển thuật ngữ văn học” đưa ra định nghĩa về truyện Nôm:“Thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thề kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm” [7, tr.
8 download by : skknchat@gmail.com Truyện Nôm là thể loại có nhiều giá trị đặc sắc, được các nhà nghiên cứu văn học quan tâm tìm hiểu. Cũng nghiên cứu về truyện Nôm, tác giả Lã Nhâm Thìn đưa ra định nghĩa: “Truyện Nôm là loại hình tự sự bằng thơ dùng ngôn ngữ văn tự dân tộc - chữ Nôm để sáng tác. Xét về thể thơ, một số tác phẩm được viết bằng thể thơ Đường luật, gọi là Truyện thơ Đường luật (như truyện Vương Tường, Lâm tuyền kì ngộ, Tô Công phụng sứ,…). Nhưng phần lớn truyện Nôm được viết bằng thể thơ lục bát.
Do đó nhiều khi, khái niệm truyện Nôm được được dùng để chỉ những tác phẩm truyện thơ lục bát” [53, tr. Đặc trưng cơ bản nhất của thể loại truyện Nôm là hình thức tự sự bằng thơ và dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ sáng tác. Tên gọi của thể loại cũng được xác lập từ những đặc trưng đó. Truyện Nôm trước hết là truyện - tức là mang bản chất của loại hình tự sự, nhưng nét đặc biệt là câu chuyện đó lại được viết dưới hình thức thơ.
Như vậy, tác phẩm là sự kết hợp, hòa trộn của cả hai loại hình tự sự và trữ tình. Mạch tự sự làm cho tác phẩm có cốt truyện, có diễn biến, có nhân vật, có những sự kiện quan trọng… Tính trữ tình giúp cho câu chuyện được kể thẫm đẫm chất thơ, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, câu thơ có nhạc điệu. Cả hai dòng chảy đó cùng hòa chung làm nên một thể loại điển hình, có số lượng tác phẩm vào loại đồ sộ, với những tác phẩm đạt đến đỉnh cao của cả nền thơ ca cổ điển Việt Nam. Truyện Nôm là một thể loại có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, trải qua một quá trình lịch sử với nhiều biến động nên có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về thể loại này.
Bên cạnh định nghĩa của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đưa ra trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra những cách hiểu, quan niệm của mình về thể loại này. Trong cuốn sách “Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại”, nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn đã chỉ ra những vấn đề cơ bản của thể loại truyện Nôm: “Truyện Nôm là loại hình tự sự bằng thơ dùng ngôn ngữ văn tự dân tộc - chữ Nôm để sáng tác. Xét về thể thơ, một số tác phẩm được viết bằng thể 9 download by : skknchat@gmail.com thơ Đường luật, gọi là Truyện thơ Đường luật (như truyện Vương Tường, Lâm tuyền kì ngộ, Tô Công phụng sứ,…). Nhưng phần lớn truyện Nôm được viết bằng thể thơ lục bát.
Do đó nhiều khi, khái niệm truyện Nôm được được dùng để chỉ những tác phẩm truyện thơ lục bát”[53, tr. Định nghĩa về truyện Nôm của nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn đã cho thấy rõ hơn những đặc trưng về mặt hình thức của thể loại này. Tác phẩm truyện Nôm có thể viết bằng thể thơ Đường luật, nhưng số lượng những tác phẩm đó chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ thể loại, những tác phẩm thuộc loại đó không nhiều, cũng không phải là những tác phẩm đạt được thành tựu đáng kể. Phần lớn truyện Nôm được viết bằng thể thơ lục bát.
Thơ lục bát là thể loại thuần túy dân tộc, bắt nguồn từ những bài ca dao, dân ca đã có từ rất lâu đời trong nền văn học dân gian. Giọng điệu trữ tình mượt mà, đằm thắm, uyển chuyển xuất phát từ ngôn ngữ của những người bình dân đã thấm đẫm và truyền tải được những tâm sự của các tác giả trung đại dưới thời đại phong kiến suy tàn qua thể loại truyện thơ Nôm. Bộ phận truyện Nôm được viết bằng thể thơ lục bát chiếm phần chủ đạo trong toàn bộ sáng tác thuộc thể loại này, chính vì vậy nhiều khi người ta dùng khái niệm truyện Nôm để chỉ những tác phẩm truyện thơ viết dưới hình thức thơ lục bát. Quá trình hình thành và phát triển truyện Nôm 1.
Những tiền đề lịch sử xã hội, văn hóa ảnh hưởng đến sự xuất hiện truyện Nôm Truyện Nôm là thể loại văn học phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XVIII, XIX nhưng sự ra đời và phát triển của thể loại này có nguồn gốc sâu xa từ những thay đổi trong đời sống lịch sử xã hội, văn hóa từ những thế kỷ trước. Nói về quá trình hình thành của truyện Nôm cần nhìn lại tiến trình lịch sử Việt Nam từ khi chế độ phong kiến trên đà suy yếu, đó chính là những tiền đề lịch sử, xã hội cho sự ra đời của thể loại này. Chế độ phong kiến Việt Nam trên đà phát triển đạt đến đỉnh cao hưng thịnh ở thể kỷ XV dưới thời Lê Thánh Tông. Nhưng con đường hưng rồi vong, 10 download by : skknchat@gmail.com thịnh đến suy là quy luật tất yếu mà trước hay sau, sớm hay muộn thì mọi triều đại đều trải qua.
Kiều Thu Hoạch đã nhận xét: “Theo quy luật chung của các vương triều phong kiến, triều Lê sau một thời gian nắm chính quyền với những vầng hào quang chói lọi của thời thịnh trị, đã lại đi vào con đường suy thoái không thể cưỡng nổi. Triều đình từ vua là “đấng chí tốn” cho đến bộ máy quan lại gồm “các bậc cha mẹ dân” đều đua nhau ăn chơi sa đọa, ngày đêm miệt mài trong các cuộc truy hoan” [13, tr. Nhưng con đường suy vong sau ánh hào quang chói lọi của một thời đại huy hoàng trong lịch sử phong kiến đến rất nhanh. Ngay sau đó, khi vừa bước sang thế kỷ XVI, chế độ phong kiến từ vua chúa đến quan lại đi vào con đường ăn chơi hưởng lạc, tiêu biểu như “Vua Quỷ” Lê Uy Mục (1505 - 1509), “Vua Lợn” Lê Tương Dực (1510 - 1516)… Mặc dù chỉ ở ngôi trong một thời gian ngắn, nhưng những hệ quả mà những vị vua tàn ác, hoang dâm, thối nát ấy để lại cũng khiến cho lịch sử cho đến đời sau vẫn không thôi ngao ngán, kinh hoàng.
Lê Uy Mục, Lê Tương Dực chỉ mới là sự khởi đầu cho một chặng đường dài đen tối trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam kéo dài suốt mấy thế kỷ. Sự suy thoái của chế độ phong kiến ngày càng hiện hình rõ hơn, chế độ ấy bước qua thời vàng son nay đã đi vào ngõ cụt. Chế độ phong kiến mục nát kéo theo sự bần cùng, lầm than của đời sống nhân dân: “Dưới sự thống trị của cái triều đình chuyên chế đồi bại đó, cùng với sự áp bức bóc lột của quan lại, cường hào địa phương, đời sống của người nông dân ngày càng bần cùng, khốn khổ. Lại thêm đói kém, mất mùa, hạn hán, lụt bão xảy ra luôn trong một số năm đầu thế kỷ XVI, làm cho đời sống nhân dân càng điêu đứng thêm” [13, tr.
Sự sa đọa của vua quan phong kiến, sự bóc lột thậm tệ của cường hào địa phương, lại thêm thiên tai, mất mùa khiến cho đời sống nhân dân khổ cực trăm bề. Và trước thực tế đó, sự bùng nổ của các cuộc đấu tranh, sự nổi dậy của quân chúng nhân dân chống lại triều đình phong kiến tất yếu xảy ra. Từ đầu thế kỉ XVI, phong trào nông dân khởi nghĩa đã nổ ra khắp nơi. Sự nổi dậy của quần chúng nhân dân - không phải để chống giặc ngoại xâm mà chính là chống lại người đứng đầu của đất nước- càng đẩy nhanh chế độ phong 11 download by : skknchat@gmail.com kiến trượt dài trên con đường suy thoái đến chỗ diệt vong.
Nhưng mặt khác, chính sự nổi dậy chống lại nền tảng tư tưởng thống trị suốt mấy trăm năm ấy cũng đã chạm đến phần sâu xa nhất trong tư tưởng dân chủ, ý thức tự do của con người. Phong trào nông dân nổi lên như bão táp cũng góp phần “thức tỉnh ở người nông dân ý thức dân chủ, tự do, tinh thần đấu tranh vì công bằng xã hội, đồng thời cũng làm cho họ ngày càng hiểu rõ hơn về vai trò và sứ mạng của mình trước lịch sử” [13, tr. Bên cạnh sự xung đột giữa nhân dân với chế độ phong kiến, thế kỷ XVI này cũng đánh dấu sự mâu thuẫn chính trong nội bộ giai cấp phong kiến. Các cuộc tranh giành ngôi vị, quyền lợi giữa các phe phái và tập đoàn phong kiến làm dấy lên những cuộc nội chiến, tiêu biểu là chiến tranh Nam - Bắc triều và chiến tranh Trịnh - Nguyễn.
Từ những năm 30 của thể kỷ XVI trở đi là những cuộc tranh giành không dứt.