Chương 1. Cơ sở lý luận về thi hành pháp luật phòng, chống tham nhũng Chương 2. Thực trạng thi hành pháp luật phòng, chống tham nhũng ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nái Chương 3. Phương hướng và mát số giải pháp đảm bảo thi hành pháp luật phòng, chống tham nhũng 6 CH¯¡NG 1 C¡ Sä LÝ LU¾N VÀ THI HÀNH PHÁP LU¾T PHÒNG, CHÞNG THAM NHiNG 1.
Các khái niãm c¢ bÁn vÁ thi hành pháp lu¿t phòng, chßng tham nhjng 1. Khái niệm tham nhũng Mát trong những vấn đề đưÿc quan tâm nhất căa mọi chính quyền nhà nước là loại bỏ tham nhũng để bá máy nhà nước trong sạch và vững mạnh hơn. Vậy để loại bỏ đưÿc tham nhũng chúng ta cần hiểu rõ về bản chất căa tham nhũng là gì? Quy định về các loại hành vi tham nhũng? từ đó có giải pháp giải quyết vấn đề tham nhũng tốt nhất trên thực tế. Theo khoản 1 Điều 3 Luật PCTN năm 2018: <Tham nhũng là hành vi của ng°ời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.= [12] Trong đó khái niệm người có chức vā, quyền hạn và vā lÿi cũng đã đưÿc giải thích trong khoản 2 và khoản 7 điều 3 Luật này.
Như vậy, theo định nghĩa này, đối tưÿng tham nhũng phải là người có chức vā, quyền hạn và người này phải lÿi dāng chính chức vā, quyền hạn căa mình để đạt đưÿc mát lÿi ích nào đó không chính đáng. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), tham nhũng là hành vi lÿi dāng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy căa dân. Tham nhũng là mát hệ quả tất yếu căa nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế - xã hái lỏng lẻo tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực, hiện tưÿng tham nhũng và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó mát phần quyền lực chính trị đưÿc biến thành quyền lực kinh tế. Tham nhũng làm 7 chậm sự phát triển kinh tế - xã hái, làm giảm lòng tin căa công dân vào nhà nước và đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế - xã hái.[5] Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về tham nhũng, nhung đều thống nhất với 3 đặc trưng: Tham nhũng là hành vi căa người có chức, có quyền trong cơ quan nhà nước hoặc trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước; có sự lÿi dāng hay lạm dāng chức quyền đưÿc giao gồm những việc làm và những việc không đưÿc làm để vā lÿi là đạt đưÿc những lÿi ích vật chất hoặc lÿi ích tinh thần không chính đáng.
Khái niệm phòng, chống tham nhũng Theo từ điển Tiếng Việt: <phòng ngừa là phòng không cho điều bất lÿi, tai hại xảy ra=, <chống là hoạt đáng ngưÿc lại, gây trở ngại cho hành đáng căa ai hoặc làm cản trở sự tác đáng căa cái gì=.[18] Điều 2 Luật PCTN năm 2018 đã quy định rất rõ các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và trong khu vực ngoài nhà nước đều do người có chức vā quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện, trong đó có 12 hành vi tham nhũng liên quan tới khu vực nhà nước. Đồng thời, quy định 03 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước.[12] PCTN cơ bản tập trung vào việc xác định các biện pháp phòng ngừa như công khai minh bạch hoạt đáng căa cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát quyền lực, kiểm soát TSTN căa người có chức vā, quyền hạn; thanh tra, kiểm tra, giám sát… do các chă thể khác nhau thực hiện nhằm không để hành vi tham nhũng xảy ra và nếu xảy ra thì có biện pháp khắc phāc hậu quả. Bên cạnh việc phòng ngừa là việc phát hiện và xử lý tham nhũng, đây là biện pháp đưÿc thực hiện sau quá trình kiểm tra, thanh tra, giám sát do các chă thể có trách nhiệm thực hiện. Nếu những hành vi tham nhũng đưÿc phát hiện kịp thời và xử lý mát cách nghiêm minh, triệt để thì việc phòng ngừa tham 8 nhũng cũng đưÿc đảm bảo hiệu quả và cũng là đáng lực cho hoạt đáng thi hành pháp luật PCTN đưÿc tiến hành thường xuyên và liên tāc.
Cùng với phân tích khái niệm tham nhũng đã đưa ra, PCTN có thể đưÿc hiểu là bao gồm các hoạt đáng căa hệ thống cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hái và quần chúng nhân dân trên cơ sở pháp luật về PCTN để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng nhằm bảo vệ lÿi ích hÿp pháp căa Nhà nước, cơ quan, tổ chức và công dân, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hái, phát triển kinh tế - xã hái căa đất nước. Khái niệm pháp luật về phòng, chống tham nhũng Pháp luật về PCTN là mát chế định thuác ngành luật hành chính, pháp luật về PCTN điều chỉnh mát nhóm các quan hệ xã hái phát sinh giữa các chă thể trong hoạt đáng phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng. Xuất phát từ phương pháp điều chỉnh chung căa Luật hành chính, pháp luật về PCTN sử dāng phương pháp điều chỉnh là mệnh lệnh – phāc tùng. Tính mệnh lệnh đưÿc hình thành từ quan hệ <quyền lực – phāc tùng= giữa mát bên nhân danh Nhà nước đưa ra những mệnh lệnh bắt buác bên kia (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải phāc tùng các mệnh lệnh đó.
Từ đó có thể hiểu: Pháp luật về PCTN là hệ thống các quy phạm pháp luật do các c¡ quan nhà n°ớc có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực PCTN. Nhìn chung nguồn căa pháp luật về PCTN rất đa dạng, các quy phạm pháp luật PCTN đưÿc chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật PCTN; Bá luật hình sự; Luật Thanh tra; Luật giám sát; Luật khiếu nại; Luật tố cáo; Luật cán bá, công chức, các nghị định căa chính phă… và cả trong điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và ký kết. Khái niệm thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Hàn lâm khoa học xã hái Việt Nam tái bản năm 2022, thi hành đưÿc hiểu là <Đem việc đã quyết định ra thực hiện. Thi hành luật=[18].
Trong thực tế, có nhiều quan niệm khác nhau về thi hành pháp luật tùy thuác vào từng góc nhìn cā thể. Theo nghĩa ráng, thi hành pháp luật đưÿc hiểu là thực hiện pháp luật, bao gồm bốn hình thức thực hiện: Tuân thă pháp luật (là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm); Chấp hành pháp luật (là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện bắt buác các quy đinh căa pháp luật); sử dāng pháp luật (là việc cơ quan tổ chức, cá nhân chă đáng thực hiện các hành vi để thực hiện quyền chă thể căa mình theo quy định căa pháp luật); và áp dāng pháp luật (là hình thức thực hiện pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện). Theo nghĩa hẹp, thi hành pháp luật cũng đưÿc hiểu là thực hiện pháp luật, nhưng chă yếu là việc chấp hành pháp luật, mát trong số bốn hình thức căa việc thực hiện pháp luật nêu trên. Trong phạm vi luận văn này, thi hành pháp luật đưÿc hiểu theo nghĩa hẹp, tức là chấp hành pháp luật.
Chấp hành pháp luật là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo chức năng, nhiệm vā, quyền hạn, nghĩa vā căa mình thực hiện các quy định căa pháp luật mát cách chă đáng, tích cực. Thi hành pháp luật về PCTN đưÿc hiểu là hoạt đáng căa cơ quan, tổ chức, cá nhân, trên cơ sở chức năng, nhiệm vā, quyền hạn, nghĩa vā căa mình, chă đáng, tích cực đó là việc ban hành các văn bản quy định, đảm bảo các điều kiện thi hành và tuân thă các quy định căa pháp luật về PCTN. Nội dung và đặc điểm thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1. Chủ thể thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Theo Điều 2 Nghị định 59/2019/NĐ-CP căa Chính phă quy định chi tiết mát số điều và biện pháp thi hành Luật PCTN thì chă thể thực hiện việc thi 10 hành Luật PCTN là các <c¡ quan, tổ chức, đ¡n vị khu vực nhà n°ớc, bao gồm: c¡ quan nhà n°ớc, tổ chức chính trị - xã hội, đ¡n vị vũ trang nhân dân, đ¡n vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà n°ớc và tổ chức, đ¡n vị khác do Nhà n°ớc thành lập, đầu t° c¡ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà n°ớc trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý; ng°ời có chức vụ, quyền hạn công tác tại c¡ quan, tổ chức, đ¡n vị khu vực nhà n°ớc và c¡ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong PCTN.
Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà n°ớc và ng°ời có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức này thực hiện các quy định tại Ch°¡ng VII của Nghị định này=.[2] Trong phạm vi nghiên cứu, UBND quận là cơ quan có trách nhiệm thi hành pháp luật về PCTN trên địa bàn quận. Đặc điểm thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Thứ nhất, thi hành pháp luật về PCTN là mát hoạt đáng có kế hoạch cā thể nhằm đưa pháp luật về PCTN vào cuác sống, biến các quy định căa pháp luật về PCTN đưÿc hiện thực hóa trong thực tế, tạo nên sự ổn định, phát triển xã hái. Thứ hai, thi hành pháp luật về PCTN mang tính quyền lực, bắt buác. Thứ ba, cơ quan thực hiện chức năng PCTN vừa trực tiếp chấp hành các quy định căa pháp luật vừa tổ chức cho các chă thể khác tuân thă, chấp hành pháp luật về PCTN.
Thứ t°, thi hành pháp luật PCTN vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Thứ năm, thi hành pháp luật về PCTN có mối liên hệ mật thiết với các hoạt đáng thi hành pháp luật khác bao gồm hoạt đáng điều tra, truy tố, xét xử căa các cơ quan điều tra, TAND, VKSND và hoạt đáng lập pháp, ban hành văn bản quy phạm pháp luật căa các cơ quan dân cử. Nội dung thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng Căn cứ Nghị định 59/2019/NĐ-CP căa Chính phă và văn bản số 1576/TTCP-PC ngày 10/9/2021 căa Thanh tra Chính phă cũng đã nêu rõ nái dung cơ bản về thi hành pháp luật về PCTN, cā thể như sau: 1.