Luận văn: Áp dụng pháp luật thi hành án để xử lý tài sản thế chấp tại Bến Tre

Luận văn phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật thi hành án xử lý tài sản thế chấp tại ngân hàng ở Bến Tre, đưa ra các vướng mắc và giải pháp.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2020

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá quy trình thi hành án tài sản thế chấp ở Bến Tre

Hoạt động thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre là giai đoạn cuối cùng, có vai trò quyết định trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng (TCTD) và Nhà nước. Đây là quá trình mà cơ quan Thi hành án dân sự (THADS) tổ chức thực thi các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến tín dụng ngân hàng. Mục tiêu chính là thu hồi nợ ngân hàng, đặc biệt là các khoản nợ xấu, thông qua việc xử lý các tài sản bảo đảm là bất động sản hoặc động sản đã được thế chấp. Quy trình này bắt đầu từ khi cơ quan THADS thụ lý yêu cầu, ra quyết định thi hành án, và tiến hành các bước xác minh điều kiện. Chấp hành viên đóng vai trò trung tâm, vừa vận động người phải thi hành án tự nguyện trả nợ, vừa áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi cần thiết. Các biện pháp này bao gồm thủ tục kê biên tài sản, thẩm định giá và tổ chức đấu giá tài sản thế chấp. Pháp luật về THADS, đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu Bến Tre, đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, thực tiễn tại Bến Tre cho thấy quá trình này không phải lúc nào cũng thuận lợi. Theo luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Nghiệp (2020), công tác thi hành án tín dụng ngân hàng tại địa phương đối mặt với nhiều thách thức, từ sự phức tạp của hồ sơ, hợp đồng thế chấp thiếu chặt chẽ, đến ý thức chấp hành pháp luật chưa cao của các bên liên quan. Việc hiểu rõ bản chất và các bước của quy trình thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre là điều kiện tiên quyết để các bên, bao gồm người được thi hành án (ngân hàng) và người phải thi hành án, bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của xử lý tài sản thế chấp ngân hàng

Xử lý tài sản thế chấp để thi hành án tín dụng ngân hàng là hoạt động của cơ quan THADS có thẩm quyền, thực hiện theo trình tự pháp luật để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho TCTD theo bản án có hiệu lực. Đặc điểm nổi bật của hoạt động này là tính pháp lý chặt chẽ và bắt buộc. Chủ thể tham gia bao gồm người được thi hành án (thường là ngân hàng) và người phải thi hành án. Mặc dù có tính cưỡng chế, pháp luật luôn đề cao sự thỏa thuận giữa các bên. Chấp hành viên có vai trò là cầu nối, khuyến khích các bên tự định đoạt về phương thức xử lý tài sản, thời gian thi hành. Tài sản thế chấp rất đa dạng, từ quyền sử dụng đất, nhà ở đến nhà xưởng, tàu cá, ô tô. Đây là cơ sở để thực hiện phát mãi tài sản ngân hàng khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ. Một đặc điểm quan trọng khác là việc áp dụng đồng thời nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, và đặc biệt là Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu.

1.2. Vai trò của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre

Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre và các cơ quan THADS cấp huyện là đơn vị trực tiếp tổ chức thực thi bản án. Vai trò của cơ quan này là đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện nghiêm chỉnh, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu cho các TCTD trên địa bàn. Cụ thể, cơ quan THADS chịu trách nhiệm thụ lý hồ sơ, ra quyết định thi hành án, xác minh điều kiện của người phải thi hành án, và tổ chức các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Theo báo cáo của Cục THADS tỉnh Bến Tre được trích dẫn trong tài liệu nghiên cứu, số lượng vụ việc liên quan đến tín dụng ngân hàng ngày càng tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Điều này đặt ra áp lực lớn cho đội ngũ chấp hành viên, đòi hỏi họ không chỉ vững về chuyên môn mà còn phải có kỹ năng vận động, thuyết phục và sự quyết liệt trong việc áp dụng pháp luật để đảm bảo hiệu quả quy trình thi hành án.

II. Top 5 vướng mắc khi thi hành án tài sản ngân hàng Bến Tre

Thực tiễn công tác thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc cố hữu, làm chậm quá trình thu hồi nợ ngân hàng và ảnh hưởng đến hiệu quả chung. Thứ nhất, các bất cập thường xuất phát từ chính hợp đồng thế chấp. Nhiều hợp đồng không chặt chẽ, đặc biệt là khi tài sản là quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình nhưng lại thiếu chữ ký của tất cả thành viên, dẫn đến tranh chấp khi tiến hành kê biên. Thứ hai, bản án, quyết định của Tòa án đôi khi tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho chấp hành viên trong việc xác định phạm vi nghĩa vụ của các bên. Luận văn của Nguyễn Văn Nghiệp (2020) chỉ ra trường hợp Tòa án không tuyên rõ nghĩa vụ liên đới của nhiều người cùng bảo lãnh, khiến cơ quan THADS lúng túng khi xử lý tài sản. Thứ ba, sự chồng chéo giữa Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết 42 tạo ra xung đột pháp lý, đặc biệt về thứ tự ưu tiên thanh toán án phí và các khoản thuế khi thanh lý tài sản bảo đảm. Thứ tư, ý thức chấp hành của người phải thi hành án rất thấp. Họ thường có hành vi chây ỳ, chống đối, tẩu tán tài sản hoặc khiếu nại kéo dài nhằm cản trở quá trình thi hành án. Cuối cùng, yếu tố tâm lý xã hội cũng là một rào cản lớn. Người dân thường e ngại mua tài sản qua đấu giá tài sản thế chấp vì lo sợ thủ tục phức tạp và những rắc rối phát sinh từ người chủ cũ. Những thách thức này đòi hỏi cần có các giải pháp đồng bộ để tháo gỡ, nâng cao hiệu quả thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre.

2.1. Bất cập từ hợp đồng và việc định giá tài sản thi hành án

Nhiều vụ việc cưỡng chế thi hành án dân sự bị kéo dài do sai sót ngay từ khâu lập hợp đồng thế chấp. Một ví dụ điển hình được nêu trong nghiên cứu là trường hợp tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhưng chỉ có vợ chồng ký tên, thiếu sự đồng thuận của các thành viên đã thành niên khác. Khi xử lý tài sản, các thành viên này khởi kiện, gây tranh chấp, làm đình trệ toàn bộ quá trình. Bên cạnh đó, việc định giá tài sản thi hành án cũng là một vấn đề. Giá trị tài sản được TCTD thẩm định khi cho vay thường cao hơn nhiều so với giá khởi điểm khi bán đấu giá. Thực tế cho thấy nhiều tài sản phải giảm giá nhiều lần vẫn không có người mua, dẫn đến tình trạng tài sản thế chấp không đủ để thi hành toàn bộ nghĩa vụ, gây thiệt hại cho ngân hàng và tồn đọng án phí.

2.2. Mâu thuẫn giữa Luật THADS và Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu

Sự ra đời của Nghị quyết 42/2017/QH14 nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu Bến Tre, tuy nhiên lại tạo ra một số mâu thuẫn với Luật Thi hành án dân sự. Cụ thể, Điều 12 của Nghị quyết 42 quy định tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho TCTD trước các nghĩa vụ khác không có bảo đảm. Quy định này xung đột với Điều 47 của Luật THADS, vốn ưu tiên thanh toán án phí và chi phí thuê nhà cho người phải thi hành án (trong trường hợp xử lý nhà ở duy nhất). Sự không thống nhất này khiến các cơ quan THADS và cơ quan Thuế gặp khó khăn trong việc áp dụng, dẫn đến tranh chấp giữa các bên về thứ tự thanh toán, làm chậm việc giao tài sản cho người trúng đấu giá và ảnh hưởng đến quá trình thu hồi nợ ngân hàng.

2.3. Khó khăn trong việc truy tìm và kê biên tài sản là động sản

Đối với tài sản thế chấp là động sản như ô tô, tàu thuyền, xà lan, việc xử lý gặp nhiều trở ngại. Do bên thế chấp vẫn được quản lý, sử dụng tài sản nên họ dễ dàng di chuyển, cất giấu hoặc bán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ. Luận văn đề cập trường hợp thi hành án mà chấp hành viên không thể tìm thấy xà lan, xe ô tô đã thế chấp do người phải thi hành án đã bỏ trốn. Việc TCTD chỉ nhận thế chấp trên giấy tờ, thiếu cơ chế giám sát và theo dõi tài sản sau khi cho vay là một trong những nguyên nhân chính. Hơn nữa, pháp luật hiện hành chưa có chế tài đủ mạnh đối với hành vi tẩu tán tài sản thế chấp, gây khó khăn lớn cho quy trình thi hành án và khả năng thu hồi nợ của ngân hàng.

III. Cách nâng cao hiệu quả thi hành án tài sản thế chấp Bến Tre

Để nâng cao hiệu quả thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre, cần triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ, tác động đến cả cơ quan THADS, TCTD và người phải thi hành án. Đối với các cơ quan THADS, việc đầu tiên là phải xác định nguyên tắc áp dụng pháp luật nhất quán, đặc biệt là khi có sự khác biệt giữa Luật Thi hành án dân sự và Nghị quyết 42. Cần có hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan trung ương để tháo gỡ vướng mắc này. Bên cạnh đó, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ chấp hành viên là yếu tố then chốt. Cần tổ chức các lớp tập huấn thường xuyên về kỹ năng xác minh, thủ tục kê biên tài sản, và xử lý các tình huống phức tạp như tài sản chung hộ gia đình hay tài sản gắn liền với đất không thế chấp. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ và theo dõi tiến độ thi hành án cũng là một giải pháp cần thiết để giảm tải công việc hành chính, giúp chấp hành viên tập trung vào chuyên môn. Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre với Ngân hàng Nhà nước, cơ quan Thuế, và chính quyền địa phương sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, đẩy nhanh quá trình thu hồi nợ ngân hàng và giải quyết các tranh chấp phát sinh một cách hiệu quả.

3.1. Nâng cao kỹ năng cho chấp hành viên về thủ tục kê biên

Kỹ năng của chấp hành viên là yếu tố quyết định thành công của việc cưỡng chế thi hành án dân sự. Cần tập trung bồi dưỡng nghiệp vụ xác minh tài sản một cách toàn diện. Trước khi thực hiện thủ tục kê biên tài sản, chấp hành viên phải xác minh thực tế hiện trạng, đối chiếu thông tin tại các cơ quan đăng ký, và làm rõ quyền sở hữu chung hay riêng. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất hộ gia đình, cần xác minh đầy đủ các thành viên tại thời điểm cấp đất để đảm bảo tính pháp lý của việc kê biên. Việc lập biên bản xác minh chi tiết, đầy đủ thông tin sẽ là cơ sở vững chắc để xử lý tài sản, hạn chế khiếu nại và tranh chấp về sau, từ đó đẩy nhanh tiến độ phát mãi tài sản ngân hàng.

3.2. Tối ưu quy trình đấu giá tài sản thế chấp một cách công khai

Để việc đấu giá tài sản thế chấp đạt hiệu quả cao, cần đảm bảo tính công khai, minh bạch và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật. Chấp hành viên phải giám sát chặt chẽ toàn bộ quá trình, từ việc ký hợp đồng với tổ chức đấu giá, niêm yết thông báo, đến khi tổ chức phiên đấu giá. Một giải pháp quan trọng là phải cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về tình trạng pháp lý của tài sản cho người tham gia đấu giá, bao gồm cả các khoản nợ liên quan và nghĩa vụ thuế phải nộp. Điều này giúp người mua lường trước các rủi ro, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định, từ đó giảm thiểu các khiếu nại sau đấu giá và đảm bảo quá trình thanh lý tài sản bảo đảm diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng.

IV. Bí quyết phối hợp xử lý nợ xấu ngân hàng hiệu quả Bến Tre

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan là chìa khóa để xử lý nợ xấu Bến Tre thành công. Về phía các TCTD, cần nâng cao trách nhiệm ngay từ khâu thẩm định cho vay. Ngân hàng phải xác minh kỹ lưỡng thông tin tài sản, nguồn gốc, tình trạng pháp lý, đặc biệt là với tài sản bảo đảm là bất động sản của hộ gia đình. Hợp đồng thế chấp phải được soạn thảo chi tiết, rõ ràng, xác định cụ thể tài sản nào được thế chấp và tài sản nào không. Sau khi cho vay, TCTD cần có cơ chế theo dõi, giám sát tài sản bảo đảm để kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi tẩu tán. Đối với người phải thi hành án, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần được đẩy mạnh. Cơ quan THADS nên tăng cường đối thoại, tạo điều kiện để họ và ngân hàng thương lượng, thỏa thuận về phương án trả nợ. Khuyến khích ngân hàng xem xét miễn, giảm lãi suất có thể là động lực để người vay tự nguyện thi hành án. Trong trường hợp cần hỗ trợ pháp lý, các bên có thể tìm đến văn phòng luật sư Bến Tre để nhận được tư vấn pháp luật thi hành án, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ được thực hiện đúng quy định, góp phần vào hiệu quả chung của công tác thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre.

4.1. Trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong thẩm định tài sản

Để hạn chế rủi ro và tranh chấp, các TCTD phải siết chặt quy trình thẩm định tài sản thế chấp. Cần khảo sát thực tế hiện trạng, xác định rõ tài sản gắn liền trên đất, và làm rõ quyền sở hữu. Đối với quyền sử dụng đất của hộ gia đình, phải yêu cầu tất cả thành viên đủ điều kiện ký tên vào hợp đồng. Ngoài ra, TCTD cần chủ động phối hợp với cơ quan THADS trong suốt quy trình thi hành án: cung cấp đầy đủ thông tin, cử cán bộ tham gia xác minh, kê biên, và tích cực tìm kiếm khách hàng mua tài sản đấu giá. Việc TCTD chủ động và có trách nhiệm sẽ giảm thiểu đáng kể các vướng mắc pháp lý, giúp quá trình thu hồi nợ ngân hàng diễn ra nhanh hơn.

4.2. Giải pháp đối thoại và giáo dục đối với người phải thi hành án

Thay vì chỉ tập trung vào các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, cần tăng cường giải pháp đối thoại và giáo dục. Chấp hành viên nên chủ trì các buổi làm việc giữa ngân hàng và người phải thi hành án để các bên tự thỏa thuận phương án trả nợ. Việc giải thích rõ các quy định pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ giúp nâng cao ý thức chấp hành. Khuyến khích các TCTD có chính sách hỗ trợ như giảm lãi, cơ cấu lại nợ, hoặc hỗ trợ chi phí thuê nhà ở khi xử lý nhà ở duy nhất không chỉ mang tính nhân đạo mà còn giúp việc giao tài sản cho người trúng đấu giá thuận lợi hơn, từ đó giải quyết dứt điểm vụ việc.

V. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thi hành án tài sản thế chấp

Để giải quyết triệt để các vướng mắc trong thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là yêu cầu cấp bách. Luận văn của Nguyễn Văn Nghiệp (2020) đã đưa ra nhiều kiến nghị xác đáng. Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất cách xử lý mâu thuẫn giữa Nghị quyết 42 và Luật Thi hành án dân sự về thứ tự ưu tiên thanh toán. Cần làm rõ trường hợp nào thì ưu tiên cho TCTD, trường hợp nào phải đảm bảo thanh toán án phí và các nghĩa vụ thuế. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 42 theo hướng tương thích với Điều 47 của Luật THADS để đảm bảo quyền lợi cho cả nhà nước và người dân. Thứ hai, cần bổ sung quy định xử lý đối với tài sản gắn liền với đất không thế chấp nhưng bị kê biên chung với quyền sử dụng đất. Cần quy định rõ số tiền thu được từ việc bán tài sản không thế chấp này sẽ được hoàn trả cho chủ sở hữu sau khi trừ chi phí. Thứ ba, cần tăng cường chế tài đối với hành vi tẩu tán, cất giấu tài sản thế chấp là động sản. Cuối cùng, Tòa án nhân dân tối cao cần chỉ đạo các Tòa án cấp dưới nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo bản án tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, tránh gây khó khăn cho quá trình thi hành án. Những thay đổi này sẽ tạo ra một hành lang pháp lý đồng bộ và khả thi hơn.

5.1. Thống nhất quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý nợ xấu

Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là sự xung đột về thứ tự ưu tiên thanh toán. Kiến nghị các bộ ngành liên quan (Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) sớm ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất. Giải pháp lâu dài là sửa đổi Nghị quyết 42, quy định rõ rằng sau khi trừ các chi phí cưỡng chế và khoản hỗ trợ thuê nhà theo Điều 115 Luật THADS, số tiền còn lại mới được ưu tiên thanh toán cho TCTD. Điều này vừa đảm bảo mục tiêu xử lý nợ xấu Bến Tre, vừa không làm thất thu ngân sách nhà nước từ án phí và bảo vệ quyền an sinh tối thiểu của người dân.

5.2. Hoàn thiện quy định về xử lý tài sản chung của hộ gia đình

Pháp luật cần có quy định cụ thể hơn về xử lý tài sản chung hộ gia đình. Hiện nay, việc xử lý chỉ dừng ở văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Tổng cục THADS, chưa có tính pháp lý cao. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật THADS, quy định rõ rằng khi bản án đã tuyên xử lý tài sản thế chấp của hộ gia đình, chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý. Các tranh chấp phát sinh từ thành viên trong hộ sẽ do Tòa án giải quyết riêng và không làm ảnh hưởng đến tiến trình thi hành án. Điều này giúp tránh tình trạng lạm dụng quyền khiếu nại để cố tình kéo dài việc thi hành án xử lý tài sản thế chấp ngân hàng tại Bến Tre.

04/10/2025
Áp dụng pháp luật trong thi hành án để xử lý tài sản thế chấp tại ngân hàng từ thực tiễn tỉnh bến tre luận văn thạc sỹ luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Hạn chế, bất cập của pháp luật thi hành án dân sự khi xử lý tài sản thế chấp ngân hàng để thi hành án Chương 2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật THADS trong xử lý tài sản thế chấp ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bến Tre. HẠN CHẾ, BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT THADS KHI XỬ LÝ TÀI •'•• SẢN THẾ CHẤP NGÂN HÀNG 1.

Khái niệm, đặc điểm xử lý tài sản thế chấp ngân hàng 1. Khái niệm về xử lý tài sản thế chấp ngân hàng Hoạt động tín dụng ngân hàng theo nghĩa chung đó là quan hệ giao dịch giữa bên cho vay và bên vay, bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho bên vay một khoản tiền trong một thời gian theo thỏa thuận, bên vay cam kết sử dụng vào mục đích được xác định, trả gốc và lãi đúng hạn và thường có cam kết về tài sản thế chấp, bảo lãnh. Mối quan hệ cho vay và trả nợ vay giữa một bên là ngân hàng và một bên là các tổ chức, cá nhân đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ cho đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của tổ chức, cá nhân. Khi các giao dịch tín dụng ngân hàng được thiết lập thì các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình; nếu không thực hiện đúng cam kết, phát sinh tranh chấp mà không tự thỏa thuận được phương thức giải quyết thì sẽ được giải quyết thông qua Tòa án hoặc Trọng tài thương mại; khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu nếu một bên không thi hành nghĩa vụ thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành để bảo vệ quyền lợi của mình.

Thực tiễn xử lý tài sản thế chấp để thi hành án TDNH chủ yếu thi hành nghĩa vụ liên quan đến người phải thi hành án phải thanh toán tiền cho các TCTD, số tiền phải thi hành thường có giá trị lớn và thường thì phải xử lý tài sản thế chấp. Như vậy, việc không chấp hành, chấp hành không nghiêm chỉnh bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định, bị áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án. Từ những phân tích trên, có thể nêu khái niệm về xử lý tài sản thế chấp để thi hành án TDNH là hoạt động của cơ quan THADS có thẩm quyền được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật 7 quy định để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các TCTD ngân hàng theo bản án, quyết định có hiệu lực thi hành. Đặc điểm xử lý tài sản thế chấp ngân hàng Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính, tư pháp của Nhà nước nhằm bảo đảm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành được thi hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, có tính chất bắt buộc đối với người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Để thi hành án, người phải thi hành án, người được thi hành án vẫn có quyền thỏa thuận với nhau về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Từ khái niệm về xử lý tài sản thế chấp để thi hành án TDNH nêu trên có thể nhận diện một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, về chủ thể trong mối quan hệ giữa các bên đương sự trong THADS bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án. Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành. Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành1.

Trong xử lý tài sản thế chấp ngân hàng, về chủ thể có tính đặc thù riêng, trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng thì một bên với tư cách là bên vay, bên thế chấp tài sản và một bên với tư cách là bên cho vay, bên nhận thế chấp; trong giai đoạn thi hành án thì mối quan hệ giữa các chủ thể là mối quan hệ giữa TCTD là bên có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ và bên thế chấp có nghĩa vụ chấp hành các biện pháp áp dụng pháp luật để xử lý tài sản thế chấp nếu như không thanh toán đầy đủ các khoản nợ. Thứ hai, thi hành án dân sự nói chung và việc xử lý tài sản thế chấp để thi 1 điều 3 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 8 hành án TDNH luôn đề cao sự tự thỏa thuận của các bên đương sự, chấp hành viên là cầu nối để tạo điều kiện cho các bên thực hiện quyền tự định đoạt, tự thỏa thuận về thời gian, biện pháp thi hành án; cách thức xử lý tài sản; hoãn thi hành án; thỏa thuận giá tài sản; lựa chọn tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá; miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Với đặc thù của thi hành án TDNH thường thì số tiền phải thi hành lớn, khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án thấp vì sử dụng các khoản vay không hiệu quả, việc thi hành án tác động trực tiếp đến đời sống, sản xuất kinh doanh của họ, việc đề cao sự tự thỏa thuận, lựa chọn phương thức xử lý tài sản của các bên, là tạo cho họ có điều kiện trả được nợ vay. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận phương thức xử lý tài sản chấp như là bán đấu giá tài sản; bên nhận bảo đảm tự bán tài sản, nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm2.

Vì vậy có thể coi quyền lựa chọn phương thức xử lý tài sản tự định đoạt, tự thỏa thuận giữa người phải thi hành án và các TCTD là một trong những đặc điểm quan trọng trong xử lý tài sản thế chấp thi hành án ngân hàng Thứ ba, trong thi hành bản án, quyết định về TDNH thường có tài sản thế chấp ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, trừ các trường hợp vay tín chấp. Tài sản thế chấp ngân hàng có thể là bất động sản, động sản, tài sản hình thành trong tương lai. Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn có tính rủi ro cao nên hầu hết các TCTD khi cho vay đều mong muốn sử dụng biện pháp bảo đảm để phòng tránh rủi ro cho các khoản tín dụng đã cấp. Khi xác lập hợp đồng thì giữa các TCTD và khách hàng đều xác lập giao dịch đảm bảo tiền vay, khách hàng phải có tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của họ, việc thế chấp có thể thế chấp một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc theo thỏa thuận của các bên nên luôn có tài sản để xử lý theo quy trình THADS.

Thứ tư, hệ quả của việc các bên không thực hiện đúng cam kết trong hợp 2 Điều 303 BLDS năm 2015 9 đồng, phát sinh tranh chấp, được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực và để thi hành án thì thường phải xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trong thi hành án TDNH của những năm gần đây thấy rằng nhiều trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thi hành nghĩa vụ cho ngân hàng, cho nên trong trường hợp này các TCTD luôn luôn yêu cầu chấp hành viên thực hiện quy trình kê biên, bán đấu giá tài sản để thi hành án nhằm đảm bảo tính công khai minh bạch về giá trị thực của tài sản thế chấp. Thứ năm, pháp luật THADS, luật khác có liên quan và Nghị quyết số 42 được áp dụng để xử lý tài sản thế chấp ngân hàng. Theo nguyên tắc chung các cơ quan THADS áp dụng đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Luật THADS.

Bên cạnh đó, với sự đa dạng về chủ thể phải thi hành án (cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp) và tài sản bảo đảm thi hành án rất phong phú (QSDĐ, nhà ở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, tàu cá, ô tô). Do đó, các cơ quan THADS phải áp dụng các quy phạm pháp luật ở nhiều lĩnh vực khác nữa như Bộ luật dân sự, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật các TCTD, Luật Nhà ở, Luật Ngân hàng Nhà nước. Riêng đối với trường hợp mà các TCTD xác định khoản vay này là nợ xấu thì còn phải chịu sự điều chỉnh của Nghị Quyết số 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD; trường hợp có quy định khác nhau giữa Nghị quyết số 42 và luật khác về cùng một vấn đề về xử lý nợ xấu, xử lý tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu của TCTD, thì áp dụng quy định của 2 Điều 303 BLDS năm 2015 10 Nghị quyết này10. Theo đó, việc xử lý số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD.

trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm11. Điều đó cho thấy rằng trong thời gian 5 năm thực hiện Nghị quyết số 42 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD, đối với các trường hợp thi hành án TDNH thuộc diện xử lý nợ xấu, thì phải đảm bảo quyền ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm. Hạn chế, bất cập của pháp luật về THADS, Nghị quyết số 42 khi xử lý tài sản thế chấp ngân hàng để thi hành án 1. Thi hành án tín dụng ngân hàng Qua nghiên cứu, đánh giá kết quả công tác THADS trong hai năm 2018, 2019 của Cục THADS tỉnh Bến Tre thấy rằng kết quả THADS có nhiều chuyển biến tích cực, các cơ quan THADS đã tổ chức thực hiện đạt vượt chỉ tiêu lãnh đạo ngành giao12 trong đó có kết quả thi hành án TDNH, góp phần kéo giảm tỉ lệ nợ xấu của các TCTD trên địa bàn năm 2019 ở mức 0,58% tổng dư nợ.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác THADS còn những tồn tại, khó khăn nhất định về thể chế và thực tiễn, số lượng việc án thụ lý nhiều, kết quả thi hành xong năm sau cao hơn năm trước nhưng số việc còn chuyển sang năm liền kề còn nhiều, nhất là các việc án liên quan đến TDNH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ