CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu, sinh lý cơ quan thính giác 1.1 Sơ lược giải phẫu tai: TAI NGOÀI TAI GIỮA TAI TRONG Màng nhĩ (3) Ốc tai (5) biến xương búa, đổi năng lượng Tai ngoài (1) truyền âm thanh xương đe và âm thành tín trực tiếp vào ống tai (2). xương bàn hiệu thần kinh đạp (4) dây VIII (6) khuếch đại độ truyền dẫn tới rung não. Cấu tạo của tai gồm: Tai ngoài: Vành tai và ống tai Tai giữa: màng nhĩ, chuỗi xương con Tai trong:ống bán khuyên, ốc tai Giải phẫu chức năng ốc tai Ốc tai có dạng xoắn ốc, bên trong có chứa dịch. Ốc tai chia thành ba thang: thang tiền đình, thang nhĩ, thang giữa.
Thang giữa là ống ốc tai( thiết 4 diện ngang hình tam giác). Cạnh trên là màng Reissner bám một đầu vào mảnh vòng quanh và một đầu vào mảnh xoắn ốc, ngăn ốc tai màng với thang tiền đình. Cạnh dưới là màng đáy cũng đi từ mảnh xoắn ốc đến mảnh vòng quanh, ngăn ốc tai màng với thang nhĩ. Cạnh ngoài là mảnh vòng quanh được lớp vân mạch máu che phủ, nuôi dưỡng ốc tai.
Ống ốc tai nằm tựa trên màng đáy chứa nội dịch, còn thang tiền đình và thang nhĩ chứa ngoại dịch. Ốc tai phụ trách chức năng nghe. Trên màng đáy là cơ quan Corti, là cơ quan nhận cảm thính giác. Cơ quan Corti gồm tế bào lông, tế bào đệm và màng mái.
Tế bào lông có hai loại: tế bào lông trong chỉ có một dãy ở phía trong trụ trong, tế bào lông ngoài có ba dãy ở phía ngoài trụ ngoài.500 tế bào lông trong và 12.500 tế bào lông ngoài. Tế bào lông ngoài có vai trò chính trong quá trình nghe.2 Thần kinh thính giác Thần kinh thính giác( dây thần kinh sọ não số VIII) có hai phần: tiền đình và ốc tai. Dây thần kinh ốc tai được dẫn truyền từ ốc tai đến vỏ não Tại ốc tai, các sợi của dây thần kinh ốc tai bắt nguồn từ xung quanh tế bào lông, tập trung vào các hạch Corti hay hạch xoắn ốc nằm trong ống xoắn Rosenthan. Dây thần kinh ốc tai có hai thành phần.
Phần li tâm( khoảng 500 sợi thần kinh) đi tới cơ quan ốc tai. Phần hướng tâm( khoảng 25.000 sợi thần kinh) tạo thành dây ốc tai hợp với dây tiền đình tạo thành thần kinh thính giác đi vào trong tận cùng ở hai nhân ốc bụng và ốc lưng nhận các xung động từ tế bào lông ngoài của ốc tai. Từ hai nhân này cho những sợi đi lên tạo nên liềm bên và thể hang rồi dừng lại ở củ não dưới và thể gối giữa. Từ thể gối giữa cho sợi đi tiếp đến vỏ não tận cùng ở trung tâm thính giác( mặt trên của hồi thái dương lên).
Từ củ 5 não cho các sợi đi xuống tạo bó mái hành và mái gai dừng lại ở nhân dây vận động thần kinh sọ hoặc sừng trước tủy sống.3 Sinh lý nghe Mỗi phần của tai có nhiệm vụ riêng khi ta nghe thấy âm thanh. Một tai bình thường sẽ dẫn truyền âm thanh theo một hệ thống mà mỗi phần của tai đóng một vai trò quan trọng nhất định.1 Dẫn truyền âm thanh Bộ phận dẫn truyền âm thanh gồm tai ngoài và tai giữa. Tai ngoài tiếp nhận âm thanh, cộng hưởng âm thanh và dẫn truyền âm thanh qua ống tai gây rung động màng nhĩ đến tai giữa. Tai giữa truyền âm thanh từ màng nhĩ( nhờ chuyển động cơ học của chuỗi xương con) vào tai trong( chuyển từ môi trường khí sang môi trường lỏng).
Quá trình này làm cộng hưởng âm thanh từ môi trường so với bên trong nhờ: Tăng diện tích tiếp xúc âm thanh do sự lồi lõm của vành tai. Ống tai cộng hưởng khi âm thanh đi qua nó.2 Tiếp nhận và hiểu âm thanh Bộ phận tiếp nhận âm thanh gồm tai trong, đường thần kinh, trung khu thần kinh( hành não, cầu não, củ não sinh tư, vỏ não) Tai trong: Các dao động âm thanh là các dao động vật lý nhờ chuyển động cơ học của chuỗi xương con vào tai trong làm chuyển động dịch trong ốc tai, tác động làm màng đáy rung động và cơ quan Corti cũng rung động theo. Khi cơ quan Corti rung động thì tế bào lông sẽ ma sát vào màng mái làm cho tế bào lông ngoài bị ngả ra trước, ngả ra sau, bị kéo căng, bị đè nén liên tục. Những thay đổi cơ học này sẽ tác động đến điện sinh học của tế bào lông 6 ngoài tạo ra xung động điện sinh vật làm cho âm thanh lúc đầu ở dạng năng lượng cơ học chuyển dạng thành năng lượng thần kinh.
Thần kinh thính giác: tiếp nhận âm thanh ở dạng năng lượng thần kinh và truyền lên vỏ não. Nhân ốc( vùng hành cầu não), thể gối trong( gọi là trung khu thính giác dưới vỏ) có tác dụng nhận biết âm thanh vào. Thùy thái dương có trung khu thính giác của vỏ não( vùng ghi nhớ âm thanh) với vai trò hiểu âm thanh. Âm thanh được đưa lên vỏ não dưới dạng mật mã.
Tại trung khu thính giác của vỏ não nó được giải mã và ghi nhớ. Nhờ đó, chúng ta mới có thể phân biệt được cường độ, âm sắc, âm tần, phân biệt được tiếng động- tiếng nói, nhận biết được giọng người quen- người lạ, giọng vui- giọng buồn.3 Một số khái niệm về thính học Âm thanh được thay đổi theo áp lực và nhận biết được bởi người có khả năng nghe bình thường như là một tiếng ồn đặc biệt. Mỗi âm thanh được xác định bằng hai chỉ số: Tần số: Được đo bằng Hertz( Hz). Người bình thường nghe được ở tần số 32- 32.000 Hz Cường độ: Được đo bằng decibels( dB) Ngưỡng nghe của người bình thường từ -10 đến 25 dB Nói thầm: 25 dB Nói chuyện bình thường: 50-60 dB Chói tai: > 90dB Gây đau: 110 dB( nếu nghe liên tục có thể gây GTL) Bản chất âm thanh của lời nói: Trong giao tiếp, các âm thanh ở dạng sóng hài (kết quả của sự hài âm, pha trộn của nhiều sóng âm có tần số và cường độ khác nhau).
Đặc biệt, lời nói của con người là sóng hài. Do vậy có 7 thể có hiện tượng một người nghe được đơn âm nhưng lại khó khăn khi nghe hiểu nói.2 Một số khái niệm liên quan đến GTL 1.1 Định nghĩa GTL: Theo chương trình quốc gia sàng lọc GTL SS- Mỹ: " GTL là mất khả năng nghe một hoặc cả hai tai ở cường độ 30-40dB trở lên và ở tần số từ 500- 4.000Hz, là vùng quan trọng đối với nhận biết ngôn ngữ và hiểu ngôn ngữ" [46] 1.2 Phân loại GTL Trên thế giới có nhiều cách phân loại GTL 1.1 Phân loại theo kiểu GTL [9] GTL dẫn truyền: do có sự cản trở việc dẫn truyền xung động âm thanh do bị tật hoặc bệnh( có dáy tai, viêm tai giữa cấp tính, u, sẹo bỏng, dị tật bẩm sinh.) ở tai ngoài và tai giữa. Thường GTL mức độ nhẹ. GTL tiếp nhận: có sự gián đoạn trong quá trình các xung thần kinh được dẫn tới vỏ não.
GTL do tổn thương tế bào thính giác ở ốc tai GTL do tổn thương dây thần kinh ở ốc tai. Có thể GTL từ mức độ nhẹ đến sâu. Thường chỉ mất thính lực ở một vài dải tần số nhất định, không phải là tất cả. GTL trung ương: do tổn thương dây VIII, nhân dây VIII hoặc tế bào của hệ thần kinh trung ương gây điếc sâu.
GTL hỗn hợp: do dẫn truyền và tiếp nhận. Thường là điếc sâu.2 Phân loại theo mức độ GTL GTL mức độ nhẹ: ngưỡng nghe 20-40 dB, có thể không nghe được tiếng thì thầm, vẫn có thể giao tiếp tốt nếu không bị phân tán bởi môi trường ồn ào hoặc 8 nhìn những chỉ dẫn từ phía người nói. Có thể là nguyên nhân làm khó khăn học ngôn ngữ, giao tiếp có lời và học nói chung. Có thể cần máy trợ thính.
GTL mức độ trung bình: ngưỡng nghe 40- 60 dB, không nghe được tiếng thì thầm, có thể nghe thấy tiếng la hét. Khó khăn học ngôn ngữ, giao tiếp có lời. Cần máy trợ thính. GTL mức độ nặng: ngưỡng nghe 60- 80 dB, không nghe được tiếng nói chuyện bình thường, có thể nghe thấy tiếng la hét giống như tiếng nói thầm.
Khó khăn học ngôn ngữ, giao tiếp có lời. Rất cần máy trợ thính. GTL mức độ điếc sâu: ngưỡng nghe > 80 dB, không nghe được tiếng la hét. Rất khó khăn học ngôn ngữ, nói và học các kỹ năng khác kể cả khi dùng máy trợ thính.
Có thể cần cấy ốc tai điện tử.3 Phân loại theo vị trí tai bị tổn thương GTL một bên tai GTL cả hai tai 1.4 Phân loại GTL theo sự liên quan đến ngôn ngữ GTL trước khi có ngôn ngữ: ở trẻ nhỏ, rất khó khăn để trẻ phát triển kỹ năng ngôn ngữ và kỹ năng nói GTL sau khi có ngôn ngữ: ở trẻ lớn và người lớn 1.3 Cơ sở của việc sàng lọc GTL Tần suất xuất hiện GTL cao Giảm thính lực Xơ nang tụy Suy giáp trạng Bệnh huyết sắc tố 9 Theo báo cáo ở Mỹ, Úc, các nước châu Âu, tần suất xuất hiện GTL 1-3/ 1000. Phát hiện sớm GTL có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thính giác là một trong những giác quan quan trọng hàng đầu để giao tiếp với thế giới. Trẻ nhỏ sử dụng khả năng nghe để phát triển các kỹ năng ngôn ngữ ngay từ khi mới chào đời, bắt đầu từ những âm thanh đầu tiên của cuộc sống.
GTL ở trẻ khiến cho việc giao tiếp với thế giới và phát triển ngôn ngữ ở trẻ bị cản trở. Những tế bào não chịu trách nhiệm về sự hiểu biết ngôn ngữ bắt đầu liên kết với nhau vào những tháng đầu tiên trong đời, vì vậy nếu không nghe được tiếng nói trong giai đoạn này, các tế bào não sẽ không được kích thích, dẫn tới khả năng ngôn ngữ của trẻ sẽ không phát triển hoặc phát triển không hoàn chỉnh, đó là lý do những trẻ nghe kém thường đi kèm thêm một tật khác là câm do không tiếp xúc được với âm thanh để học nói. Ảnh hưởng của GTL đến sự phát triển của trẻ phụ thuộc rất lớn vào lứa tuổi mắc bệnh. Chính vì vậy những ảnh hưởng này sẽ được khắc phục nếu trẻ được phát hiện và can thiệp kịp thời để giúp hỗ trợ khả năng nghe và cơ hội phát triển ngôn ngữ, học tập như trẻ bình thường.
Trong nghiên cứu của C.